Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC 1. Các khái niệm liên quan đến chính sách phát triển nguồn nhân lực 1. Nguồn nhân lực Theo định nghĩa của Liên Hiệp Quốc: “Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng” [31, tr. Phạm Minh Hạc: “Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hoặc một địa phương, tức nguồn lao động được chuẩn bị (ở các mức độ khác nhau) sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó, tức là những người lao động có kỹ năng (hay khả năng nói chung), bằng con đường đáp ứng được yêu cầu của cơ chế chuyển đổi cơ cấu lao động, cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH” [16,tr.
Hoàng Chí Bảo: “nguồn lực con người là sự kết hợp thể lực và trí lực, cho thấy khả năng sáng tạo, chất lượng, hiệu quả hoạt động và triển vọng mới phát triển con người” [1, tr. Như vậy, khi nói đến nguồn nhân lực tức là nói đến toàn bộ những người có khả năng tham gia vào phát triển kinh tế - xã hội trực tiếp và các thế hệ những người sẽ tiếp tục tham gia vào phát triển kinh tế - xã hội (tiềm năng). Nguồn nhân lực không đơn thuần là lực lượng lao động có và sẽ có mà là tập hợp gồm cả ba yếu tố thể lực, trí lực và kỹ năng lao động, thái độ lao động và phong cách làm việc. Những đặc điểm này thuộc vào chất lượng nguồn nhân lực và được đánh giá bằng các chỉ tiêu tổng hợp là văn hóa lao động.
Từ các cách hiểu nêu trên và từ thực tiễn gắn với góc độ nghiên cứu của đề tài, có thể hiểu: NNL là nguồn lực con người, là tổng thể số dân và chất lượng con người với những chỉ tiêu về thể chất, trí tuệ, tinh thần của các cá nhân trong một cộng đồng, một quốc gia. đã, đang và sẽ tham gia vào quá trình lao động sáng tạo vì sự phát triển và tiến bộ của xã hội. 8 Như vậy, trong nguồn nhân lực thì yếu tố chất lượng nguồn nhân lực đóng vai trò quan trọng, quyết định cho sự phát triển và tiến bộ của xã hội, nhất là trong giai đoạn hiện nay, khi cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đang diễn ra mạnh mẽ và nhanh chóng thì nguồn nhân lực chất lượng cao có vai trò cực kỳ quan trọng cho sự phát triển nhanh và bền vững, thúc đẩy nền kinh tế xã hội phát triển. Phát triển nguồn nhân lực Theo Liên Hiệp Quốc: Phát triển nguồn nhân lực bao gồm giáo dục, đào tạo và sử dụng tiềm năng con người nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống nguồn nhân lực [60].
Nguyễn Đình Tấn: Phát triển nguồn nhân lực là quá trình nâng cao năng lực của con người về mọi mặt: Thể lực, trí lực, tâm lực, đồng thời phân bổ, sử dụng, khai thác và phát huy hiệu quả nhất nguồn nhân lực thông qua hệ thống phân công lao động và giải quyết việc làm để phát triển kinh tế - xã hội [37, tr. Phạm Thành Nghị: Phát triển nguồn nhân lực là gia tăng giá trị cho con người, cả giá trị vật chất và tinh thần, cả trí tuệ lẫn tâm hồn cũng như kỹ năng nghề nghiệp, làm cho con người trở thành người lao động có những năng lực và phẩm chất mới, cao hơn, đáp ứng được những yêu cầu to lớn và ngày càng gia tăng của sự phát triển kinh tế - xã hội [34, tr. Từ những khái niệm trên, tác giả cho rằng, phát triển nguồn nhân lực là sự biến đổi cả về số lượng và chất lượng của nguồn nhân lực trên các mặt thể lực, trí lực và tâm lực nhằm đáp ứng nhu cầu về nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn phát triển. Như vậy, PTNNL bao gồm phát triển về số lượng và phát triển về chất lượng.
Trong giai đoạn hiện nay, PTNNL về chất lượng đang được đặc biệt quan tâm để tạo ra NNL chất lượng cao đáp ứng được yêu cầu CNH, HĐH và hội nhập quốc tế của đất nước. Phát triển về mặt số lượng là làm tăng số lượng nhân lực trẻ cơ học thông qua các chính sách dân số, điều tiết cơ cấu vùng miền, cơ cấu sản xuất. Phát triển về mặt chất lượng là nâng cao sức khỏe, thể lực chiều cao, cân nặng cân đối, trình độ chuyên môn, văn hóa, kỹ năng nghề nghiệp, đạo đức, lối sống … 9 Biến đổi về cơ cấu là làm cân đối cơ cấu nguồn nhân lực phù hợp giữa các vùng miền, giới tính, lứa tuổi, nghề nghiệp, trình độ chuyên môn, khoa học…. Chính sách Chính sách là động lực quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, đất nước.
Chính sách đúng đắn sẽ là đòn bẩy để thúc đẩy sự phát triển của một ngành hoặc lĩnh vực hoặc một địa phương nào đó và ngược lại. Chính sách có vai trò quan trọng là quyết định đến sự phát triển kinh tế - xã hội của vùng, địa phương và của cả nước. Qua nghiên cứu cho thấy có rất nhiều cách hiểu khác nhau về nội hàm của chính sách. Tuy nhiên, tác giả đồng ý với cách hiểu: “Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ.
Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó. Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tuỳ thuộc tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội. Muốn đầu ra chính sách đúng phải vừa giữ vững mục tiêu, phương hướng được xác định trong đường lối, nhiệm vụ chung, vừa linh loạt vận dụng vào hoàn cảnh và điều kiện cụ thể” [30, tr. Đây là một khái niệm tương đối hoàn chỉnh về chính sách nói chung, theo khái niệm này, nội hàm của chính sách gồm: Thứ nhất, Chính sách là văn bản cụ thể hóa đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước đối với một lĩnh vực nào đó, một đối tượng nào đó.
Thứ hai, CS thường được thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định. Thứ ba, Chính sách được ban hành phải căn cứ vào đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật của nhà nước và tình hình thực tế nhắm đến một mục đích nào đó; nhằm thực hiện mục tiêu nào đó. Thứ tư, Chính sách muốn có tính khả thi cao khi áp dụng vào thực tế thì khi xây dựng chính sách cần sát với tình hình thực tiễn và khi áp dụng phải có tính linh hoạt, sáng tạo trên cơ sở vận dụng đường lối, chủ trương, nhiệm vụ để phù hợp với điều kiện thực tế của từng ngành nghề, từng địa phương, vùng miền. Chính sách công Theo PGS.
Đỗ Phú Hải: “Chính sách công là một tập hợp các quyết định 10 chính trị có liên quan của nhà nước nhằm lựa chọn mục tiêu cụ thể với các giải pháp công cụ thực hiện giải quyết các vấn đề của xã hội theo mục tiêu đã xác định của Đảng chính trị cầm quyền” [18, tr. Nguyễn Hữu Hải: "Chính sách công là kết quả ý chí chính trị của nhà nước được thể hiện bằng một tập hợp các quyết định có liên quan với nhau, bao hàm trong đó định hướng mục tiêu và cách thức giải quyết những vấn đề công trong xã hội" [20, tr. Hồ Việt Hạnh: “Chính sách công là những quyết định của chủ thể được trao quyền lực công nhằm giải quyết những vấn đề vì lợi ích chung của cộng đồng” [21, tr. 6] Tóm lại từ các khái niệm trên, cho thấy Chính sách công đều có những đặc trưng quan trọng đó là: Thứ nhất, chủ thể ban hành chính sách công là Nhà nước.
Nhà nước ở đây được hiểu là các cơ quan có thẩm quyền trong bộ máy Nhà nước, bao gồm Quốc hội, Chính phủ, các Bộ, chính quyền địa phương các cấp… CSC do Nhà nước đề ra và tổ chức thực thi nên CSC luôn phản ánh bản chất của Nhà nước đó. Nhà nước ta là nhà nước của dân, do dân và vì dân. Vì vậy các CSC của Nhà nước là sự tác động của Nhà nước lên các lĩnh vực kinh tế - xã hội nhằm thúc đẩy sự phát triển của đất nước, phục vụ lợi ích của nhân dân. Trong giai đoạn hiện nay, các CSC của Nhà nước hướng vào việc tạo ra những động lực và phát huy sức mạnh nội tại trong dân, kết hợp với việc tạo dựng nguồn vốn, môi trường và điều kiện quốc tế để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Thứ hai, CSC gồm nhiều quyết định có liên quan lẫn nhau. Khái niệm quyết định ở đây có thể được coi như một sự lựa chọn hành động của Nhà nước. Chính sách là một chuỗi hay một loạt các quyết định cùng hướng vào việc giải quyết một vấn đề chính sách, do một hay nhiều cấp khác nhau trong bộ máy Nhà nước ban hành trong một thời gian dài. Một chính sách có thể được thể chế hóa thành các văn bản pháp luật để tạo căn cứ pháp lý cho việc thực thi.
Thứ ba, các quyết định này là những quyết định hành động. CSC trước hết thể hiện dự định của nhà hoạch định chính sách làm thay đổi hay duy trì một hiện trạng 11 nào đó. Song, nếu chính sách chỉ là những dự định, dù được ghi thành văn bản thì nó vẫn chưa phải là một chính sách. CSC còn phải bao gồm các hành vi thực hiện những dự định nói trên và đưa lại những kết quả thực tế.
Thứ tư, CSC tập trung giải quyết một vấn đề đang đặt ra trong đời sống kinh tế - xã hội theo những mục tiêu xác định. Khác với các loại công cụ quản lý khác như chiến lược, kế hoạch của nhà nước là những chương trình hành động tổng quát, bao quát một hoặc nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội, đặc điểm của CSC là chúng được đề ra và được thực hiện nhằm giải quyết một hoặc một số vấn đề đang đặt ra trong đời sống xã hội. Có thể nói, vấn đề chính sách là hạt nhân xuyên suốt toàn bộ quy trình chính sách. Thứ năm, xét theo nghĩa rộng, CSC bao gồm những việc nhà nước định làm và không định làm.
Điều đó có nghĩa là, không phải mọi mục tiêu của CSC đều dẫn tới hành động, mà nó có thể là yêu cầu của chủ thể không được hành động.