Chương I đã phi rõ: "Đây là chính sách công khai của quốc gia nhằm khuyến khích sự hình thành và phát triển của các hợp tác xã như một phương tiện có ích, nhằm tăng cường tính tự lực và khai thác hết khả năng con người nhằm đạt mục tiêu phát triển kinh tế và sự công bằng xã hội. Nhà nước khuyến khích khu vực tư nhân thành lập và tổ chức các hợp tác xã và tạo môi trường thuận lợi cho sự lớn mạnh và phát triển của các hợp tác xã. Theo Luật hợp tác xã Ấn Độ, thì chính sách của Nhà nước dành cho các hợp tác xã là: 16 "Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các hợp tác xã, một tổ chức tự nguyện và dân chủ của nhân dân trên cơ sở tự giúp mình và giúp đỡ lẫn nhau, nâng cao địa vị kinh tế xã hội của họ. Chính sách của Nhà nước là hỗ trợ các hợp tác xã.
trong việc thực hiện các nguyên tắc chủ đạo của chính sách Nhà nước như quy định trong Hiến pháp Ấn Độ. Ở Việt Nam, quan điểm đổi mới kinh tế của Đảng và Nhà nước ta là phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, theo đó, các chủ thể kinh tế vừa cạnh tranh, vừa có thể hợp tác với nhau dưới các hình thức đa dạng, trong đó có hình thức hợp tác xã. Đường lối của Đảng về định hướng phát triển kinh tếhợp tác và đổi mới hợp tác xã ở nước ta là coi trọng phát triển kinh tếhợp tác xã để cùng với kinh tế Nhà nước làm nền tang của nền kinh tế quốc dân, nhằm thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Phát triển kinh tế hợp tác và hợp tác xã là giúp khắc phục được những khuyết tật của kinh tế thị trường như sản xuất cá thể, nhỏ lẻ, cạnh tranh và chèn ép của các doanh nghiệp lớn, giúp thực hiện xoá đói, giảm nghèo, phát huy sức mạnh của từng xã viên và sức mạnh của tập thể, bảo đảm vai trò quan trọng của sở hữu tập thể theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
a) Quản lý Nhà nước đối với hợp tác xã. Hợp tác xã là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt. Bởi vậy, hầu hết các nước đều tiến hành thực hiện việc quản lý hợp tác xã và quản lý theo cách riêng của mình thống qua một cơ quan do Nhà nước chỉ định. me Z* fa + Lẻ ° nx aw eA ` x ° Pa va ~ Đối với các nước phát triển, su xuất hiện và tồn tại các hợp tác xã được coi như một lẽ đương nhiên, giống như mọi loại hình doanh 17 nghiệp khác.
Hợp tác xã cũng chịu sự quản lý của Nhà nước và hoạt động trong khuôn khổ pháp lý mà Nhà nước đã tạo ra cho nó bằng các quy định của Luật hợp tác xã. Các hợp tác xã tự thân vận động trong khuôn khổ pháp luật và không có sự biệt đãi nào. Nhà nước thực hiện quan lý hợp tác xã thông qua hệ thống Toà án có sự phối hợp với các Bộ chức năng tổng hợp như Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính. trong việc ban hành các quy chế cần thiết.
Đối với những nước đang phát triển, do nền kinh tế còn non yếu, trình độ dân trí chưa cao, nếu để cho hợp tác xã tự hình thành thì mất khá nhiều thời gian. Vì vậy, họ chủ trương khuyến khích phát triển phong trào hợp tác xã với sự giúp đỡ, hỗ trợ của Nhà nước, thông qua việc hướng dẫn, công bố các chính sách, tạo điều kiện thuận lợi cho các hợp tác xã ra đời, hoạt động và phát triển. Để làm công việc này, phải hình thành một tổ chức chuyên quản lý hợp tác xã do Nhà nước chỉ định. Ở Inđônêxia, đứng đầu tổ chức đó là ông Bộ trưởng phụ trách hợp tác xã được giao nhiệm vụ kiểm tra các công việc của hợp tác xã và hệ thống cán bộ có thẩm quyển.
Đó là những viên chức do Nhà nước hoặc Bộ trưởng chỉ định và được giao quyển hạn đặc biệt về một số vấn dé quản lý hợp tác xã như hướng dẫn, đăng ký, kiểm tra. 2 O Thái Lan, ông Bộ trưởng phát triển quốc gia có trách nhiệm và có quyền chỉ đạo việc thi hành luật, được cử cán bộ có thẩm quyền và ban hành các quy chế để thi hành luật. Ở Philipin, Uỷ ban phát triển hợp tác xã chăm lo các mặt phát triển của hợp tác xã. Uỷ ban là tổ chức được điều hành bởi một hội đồng } i , 21 18 các uy viên.
Uỷ ban gồm một Chủ nhiệm và 6 thành viên chuyên trách. Những người này do chính Tổng thống Philipin chọn từ những người được giới thiệu trong phong trào hợp tác xã. Ngoài ra còn có 4 thành viên từ các Bộ nông nghiệp, Giao thông vận tải, Điện lực, Quản lý đường bộ. Uỷ ban được trao day du các quyền để ban hành quy tắc và quyết nghị để quản lý việc hỗ trợ, tổ chức đăng ký, điều chỉnh và kiểm tra tất cả các loại hình hợp tác xã.
Uỷ ban còn đảm nhận nhiệm vụ thiết lập và chấp nhận các kế hoạch, dự án phát triển hợp tác xã cũng như theo dõi việc thi hành các kế hoạch và dự án đó. Tóm lại, Uỷ ban là một cơ quan thường trực của Nhà nước phụ trách việc đăng ký và ban hành những quy định về hoạt động của các hợp tác xã. Uỷ ban có hệ thống các cơ quan từ Trung ương đến địa phương. Ở Ấn Độ, Nhà nước không can thiệp vào sự quản lý và hoạt động của các hợp tác xã.
Nhà nước coi các hợp tác xã là các tổ chức dân chủ, do các xã viên làm chủ, tự quản lý và diéu hành để nâng cao địa vị kinh tế - xã hội của họ, thực hiện kinh doanh trên cơ sở giúp đỡ lẫn nhau và các nguyên tắc hợp tác xã. Tuy nhiên, Ở Ấn Độ, chỉ những hợp tác xã mà mục đích chủ yếu là khuyến khích lợi ích chung và phát triển xã hội cho các xã viên thì mới được đăng ký hoạt động. Hợp tác xã được đăng ký với trách nhiệm hữu hạn. Người đứng đầu cơ quan đăng ký hợp tác xã do Chính phủ chỉ định.
Ngoài ra, còn một người cấp phó và những người giúp việc người đăng ký. Ở Brunây, Nhà Vua bổ nhiệm người đứng đầu cơ quan đăng ký hợp tác xã và các trợ lý của ông ta. Ở Srilanka và Bănglađét, quyền đăng ký cũng giao cho người đứng đầu cơ quan đăng ký hợp tác xã. 19 ? O một số nước khác, Chính phủ thành lập các tổ chức để hỗ trợ cho hợp tác xã, thông qua điều khoản về giúp đỡ tài chính, hoặc giúp đỡ khác để thiết lập và thực hiện các dự án trong nhiều lĩnh vực khác nhau của hợp tác xã.
Các tổ chức này sẽ hướng dẫn và chỉ đạo mẫu về quản lý và thực hiện chức năng của các hợp tác xã mà họ giúp đỡ. Ví dụ: Bănglađét có "Uỷ ban phát triển nông thôn" để chỉ đạo sự phát triển của các hợp tác xã ở các khu vực nông thôn. Ở Ấn Độ có "Liên đoàn phát triển hợp tác xã quốc gia", "Uỷ ban phát triển sản xuất bò sữa quốc gia" v. nhằm để chăm lo, hỗ trợ phát triển hợp tác xã về một số lĩnh vực hoạt động nhất định.
Nhà nước quản lý các hợp tác xã còn nhằm mục đích bảo toàn vốn và tài sẵn do Nhà nước giúp đỡ và hỗ trợ các hợp tác xã, đồng thời còn giúp cho các hợp tác xã thực hiện việc quản lý kinh doanh, có những quyết định đúng đắn trong sẵn xuất, kinh doanh. Sắc lệnh về các hợp tác xã của Bănglađét (Điều 28 và Điều 23) có quy định mức hỗ trợ của Chính phủ và vai trò của Nhà nước trong việc quản lý các hợp tác xã. Ở Ấn Độ, Điều 59 - Luật hợp tác xã Liên bang 1984 có quy định về sự giúp đỡ của Nhà nước đối với các hợp tác xã ở cấp Liên bang. Luật Hợp tác xã Inđônêxia quy định nhiệm vụ Nhà nước phải hỗ trợ và phát triển phong trào hợp tác xã như sau: "Chính phủ phải có trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra, bảo vệ và tạo điều kiện cho các hợp tác xã thi hành Điều 33 của Hiến pháp cùng với văn bản giải thích Hiến pháp đó”Ẻ'.
“ Điều 37 - Luật Hợp tác xã Inđônêxia. 20 Luật Hợp tác xã Philipin cũng có điều khoản về việc giúp đỡ các mặt của Nhà nước như hỗ trợ giáo dục, đào tạo, dịch vụ, kiểm toán, kỹ thuật và tài chính. Nhưng sự giúp đỡ của Nhà nước chỉ được thực hiện ˆ ? x Z ~ Z ^ a khi ban thân hợp tác xã có yêu cầu cu thé. a Luật Hợp tác xã của Srilanka mặc dù không có điều khoản quy định rõ ràng mức giúp đỡ tài chính của Nhà nước cho các hợp tác xã, song trên thực tế Nhà nước vẫn đành nhiều khoản tài chính để giúp các hợp tác xã, ngoài ra, còn giúp đỡ về mặt kỹ thuật, luật pháp và van đề quản lý.
Điều 5 Luật hợp tác xã Thái Lan quy định việc thành lập Bộ hỗ trợ hợp tác xã có trách nhiệm tuyên truyền mục đích, ý nghĩa của việc hình thành, tổ chức và hoạt động các hợp tác xã, hỗ trợ về tư vấn thành lập các hợp tác xã. Sự giúp đỡ nhiều mặt của Nhà nước đối với các hợp tác xã đã dẫn tới việc mở rộng hoạt động của hợp tác xã. Ở một số nước (như Ấn Độ, Bănglađét, Srilanka) Luật hợp tác xã giao quyển cho Chính phủ cử những người đại diện vào Ban Quản trị của các hợp tác xã. Nếu Nhà nước góp trên 50% vốn cổ phần vào hợp tác xã, thì Nhà nước có quyền cử đại diện của mình vào Hội đồng quản trị, nhưng không quá 1/3 số thành viên và không quá 3 người.
Một số bang của Ấn Độ ấn định số thành viên của Nhà nước trong Hội đồng quản trị phải tương ứng, với phần vốn do Nhà nước đã góp vào hợp tác xã. b) Vai trò của pháp luật hop tác xã trong việc hình thành, phát triển các hợp tác xã. 21 Như phần trên đã trình bày, Nhà nước thực hiện việc quản lý đối với các hợp tác xã bằng các quy định của pháp luật. Việc ban hành Luật hợp tác xã ở một số nước chính là việc Nhà nước đã tạo cơ sở pháp lý để cho các hợp tác xã hình thành, hoạt động và phát triển được thuận lợi, bình đẳng với các loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác.