phần mở đầu và kết luận, danh mục tải liệu tham khảo, đề tài luận văn gồm 3 chương: ~ Chương l: Cơ sở lý luận về xóa đói giảm nghèo. ~ Chương 2: Thực trạng đói nghèo của đồng bảo dân tộc thiểu số của huyện. KonPlông, tỉnh Kon Tum. ~ Chương 3: Một số giải pháp xóa đói giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số ở huyện KonPlông, tỉnh KonTum.
CHUONGI CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO. Những vấn đề chung về đói nghèo. Đói nghèo là một vấn đề xã hội, nó làm hạn chế sự phát triển mọi mặt của. nhân loại, gây nghiêm trọng đến sức khỏe, giống nỏi, ảnh hưởng đến chất xám và trí tuệ của mỗi người và cả cộng đồng, dân tộc.
Là một trong những nguyên nhân chính gây nên các tiêu cực và tệ nạn xã hội đó là: Rượu chè, cờ bạc, ma túy, mại dâm, trộm cắp, giết người. Đôi nghèo thường đi đôi với thất nghiệp không có việc làm và không ổn định công việc, dễ bị kẻ xấu lợi dụng gây chia rẽ dân tộc làm ảnh hưởng đến trật tự xã hội, an ninh quốc gia. Các quốc gia trên hành tỉnh chúng ta khác nhau về nhiều mặt: trình độ phát triển kinh tế, điều kiện địa lý tự nhiên, dân số và trình độ dân trí, bản sắc văn hoá, tín ngưỡng, tập quán và chế độ. Nhưng cho dù có sự khác biệt như thê nào, vẫn có những điểm chung, những vấn đề bức xúc cần được quan tâm, một trong những vấn đề rộng lớn có tính toàn cầu là nạn đói nghèo, trình độ lạc hau, bat đồng về màu da.
Nhiều diễn đàn khu vực và thế giới đã khẳng định, đói nghèo là vấn đề nỗi côm của xã hội, đồng thời cũng cảnh báo rằng vấn đẻ đói nghèo không chỉ ở phạm. vi quốc gia mà lan tỏa ra cả thế giới. Nó sẽ dẫn đến mắt dn định chính trị trong và ngoài nước, sẽ tạo ra những hậu quả khó lường như: Di dân quốc tế ö ạt, phá huỷ. môi trường, mẫu thuẫn sắc tộc tôn giáo, tiêu cực xã hội lan rộng, ảnh hưởng chung.
đến cả nhân loại Vi vậy, đói nghèo không còn là vấn đề riêng của một quốc gia, mà là vấn đề quốc tế. Hội nghị thượng đỉnh thể giới về phát triển xã hội, họp tại Copehagen Đan Mạch tháng 3/1995, những người đứng đầu các quốc gia, đã tuyên bố “Chúng tôi cam kết thực hiện mục tiêu xoá đói giảm nghèo trên thế giới, thông qua các hành. động quốc gia kiên quyết và sự hợp tác quốc tế, coi đây như đòi hỏi bắt buộc về mặt đạo đức xã hội, chính trị kinh tế của nhân loại”. Để hình thành các giải pháp xoá đói giảm nghèo, cần thiết phải có quan niệm.
đúng về đói nghèo. Tuy vậy, cho đến nay quan niệm về đói nghèo và tiêu chí xác. định có nhiều quan niệm và cách tiếp cận khác nhau. Khái niệm, tiêu chí giá đói nghèo.
Khái niệm về đói nghèo được nêu ra tại hội nghị bàn về xoá đói giảm nghèo ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc tháng 9/1993 Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu câu này đã được xã hội thừa nhận tu): theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của môi địa phương. Khi xác định tiêu chí và mức độ đói nghèo, các công trình nghiên cứu quốc tế thường chia làm hai cấp độ: phận định giữa các quốc gia và giữa các nhóm dân cư, từ đó xác định các quốc gia giàu, nghèo trên thế giới và phân chia dân cư của. mỗi quốc gia hoặc từng địa phương thành nhóm giàu, nghèo. Đối với các quốc gia, hiện nay Ngân hàng thé giới (WB) dura ra các tiêu chí đánh giá mức độ giàu nghèo của các quốc gia bằng thu nhập bình quân đầu người theo hai cách tính: + Phương pháp ATLAS tức là tỷ giá hối đoái và tính theo USD.
+ Phuong phap PP là phương pháp sức mua tương đương tính theo USD. Từ đó ở cắp quốc gia, WB chia các quốc gia trên thế giới thành 4 nhóm: + Nhóm các nước nghèo nhất. + Nhóm các nước có trình độ trung bình. + Nhóm các nước có thu nhập khá cao.
+ Nhóm các nước có thu nhập cao và rất cao. Trong quá trình nghiên cứu nghèo đói và thực hiện hỗ trợ chương trình xóa đối giảm nghèo ở Việt Nam, Ngân hàng thế giới đưa ra mức chuẩn nghèo đói cho 'Việt Nam. Căn cứ cơ bản để Ngân hàng thế giới xác định ngưỡng nghèo đói ở Việt Nam là lượng Calo tối thiểu cho 1 người trong 1 ngày. Từ đó, so sánh thu nhập của.
gia đình mua sắm thức ăn đủ số Calo cần thiết theo yêu cầu. Ngân hàng thế giới đưa ra mức yêu cầu lượng calo của người Việt Nam là 2100Cl/người/ ngày. Căn cứ vào giá cả các loại thức ăn cần thiết, Ngân hàng thế giới đưa ra mức chỉ phí cần cho 1 người ở nước ta vào thời kỳ 1992 - 1993 là 729. Dựa vào số liệu điều tra mức sống dân cư tại nước ta năm 1993 và năm 1998, Ngân hàng thế giới phân loại nghèo đói thành 2 loại: Nghèo đói chung và nghèo đói lương thực, thực phẩm.
Ứng với mỗi loại nghèo đói trên, Ngân hàng thế giới nêu ra ngưỡng đói nghèo cho từng loại ở Việt Nam. 'Ngưỡng nghèo lương thực, thực phẩm: ~ Năm 1993.500 đồng/người/tháng.000 đồng/người/tháng, 'Ngưỡng nghèo chung: ~ Năm 1993 96.600 đồng/người/tháng, ~ Năm 1998 149.000 đồng/người/tháng. 'Như vậy, theo quan niệm của Ngân hàng thế giới, Việt Nam cần thiết phân loại nghèo đối ở cả 2 dạng: dạng và ngưỡng nghèo đối chung; dạng và ngưỡng nghèo đói lương thực. Theo quan niệm của Ngân hàng thế giới, ngoài chỉ tiêu tối thiểu về lương thực để đảm bảo đủ lượng calo 2100/người/ngày, còn có những khoản chỉ tiêu tối thiểu phi lương thực, thực phẩm.
Do đó, chuẩn của ngưỡng nghèo. đói chung có mức cao hơn chuẩn nghèo đói lương thực, thực phẩm. Nghèo có 2 dạng: nghèo tương đối và nghèo tuyệt đối. Nghèo tuyệt đối là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thoả mãn các nhu cả oi thiéu đểé duy trì cuộc sống.
Nghèo tương đối là sự nghèo khổ thể hiện ở sự bắt bình đảng. trong quan hệ phân phối của cải xã hội giữa các nhóm xã hội, các tầng lớp dân cư, các vùng địa lý. Như vậy, nghèo đói là quan niệm mang tính chất tương đối cả về không gian và thời gian. Về nghèo tuyệt đối, biểu hiện chủ yếu thông qua tình trạng.
một bộ phận dân cư không được thoả mãn các nhu cầu tối thiểu - trước hết là ăn gắn liền với dinh dưỡng. Ngay nhu cầu này cũng có sự thay đổi, khác biệt từng quốc. Phạm trù “nhu cầu tối thiêu” cũng được mở rộng dần. Còn về nghèo tương đối gắn liền với sự chênh lệch về mức sống của một bộ phận dân cư so với mức.
ng trung bình của địa phương ở một thời kỳ nhất định. Vì những lý do đó, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng việc xoá dần nghèo tuyệt đối là công việc có thể làm, còn nghèo tương đối là hiện tượng thường có trong xã hội và vắn đề cần quan tâm là rút ngắn khoảng cách chênh lệch giàu nị và hạn chế sự phân hoá giàu nghèo. Chuẩn nghèo của Chính phủ Việt Nam: Năm 2006 chuẩn nghèo này là từ 200 nghìn đồng/người/“tháng trở xuống đối với khu vực nông thôn và từ 260 nghìn. đống/người/tháng trở xuống đối với khu vực thành thị.
Chuẩn nghèo này được cập nhật theo giá năm 2008 là từ 280 nghìn đồng/người/tháng trở xuống đối với khu vực nông thôn và từ 370 nghìn đống/người/tháng trở xuống đối với khu vực thành thị. Đến năm 2010 Chính phủ ban hành chuẩn nghèo mới và cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011-2015 là từ 400 nghìn đồng/người/tháng trở xuống đối với khu vực nông thôn và từ 500 nghìn đống/người/tháng trở xuống đối với khu vực thành thị: tượng cận nghèo là hộ có thu nhập từ 401-520 nghìn đồng/người/tháng đối. khu vực nông thôn và từ 501- 650 nghìn đống/người“tháng đối với khu vực thành thi Ngoài việc điều chỉnh cho phù hợp với sự biến động của giá cả, chuẩn nghèo này có. thể được thay đổi khi nguồn lực của Chính phủ hay chính quyền địa phương gia tăng.
Chuẩn nghèo của Chính phủ được sử dụng cho mục đích thực hiện hỗ trợ xã hội trong khuôn khổ các chương trình mục tiêu giảm nghèo. Ở các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bảo dân tộc thiểu số kinh. tế chủ yếu là nông nghiệp, từ cung tự cấp và phụ thuộc nhiều vào tự nhiên, tỷ lệ đói nghèo ở khu vực này khá cao. Một khi phải đồ: mặt với thách thức: ăn, mặc, chỗ ở, thì đời sống tỉnh thần cũng nghèo nản.
Tắt cả thu nhập thực tế của họ hầu như dành. toàn bộ cho chỉ phí ăn, thậm chí không đủ ăn, vậy ngoài nhu cầu về ăn ra các nhu cầu cơ bản khác như mặc, ở, y tế, giáo dục, văn hoá tỉnh thần, thông tin liên lạc.chỉ đáp ứng một phần rất nhỏ bé. Đối nghèo là một khái niệm động, phụ thuộc vào sự phát triển kinh tế xã hội, lịch sử, mức độ tăng trưởng kinh tế và nhu cầu phát triển của con người. Ở một thời điểm, một vùng, một quốc gia là đói nghèo.
Nhưng một thời điềm khác, vùng khác, một quốc gia khác thì chỉ số đó mắt ý nghĩa. Do đó, rất khó quy định hợp lý một 10 chuẩn mực chung về đói nghèo cho tất cả mọi quốc gia, ngay trong một quốc gia cũng có thể khác nhau giữa các vùng, giữa các thời ky. Các nguyên nhân dẫn đến đói nghè: Đôi nghèo là hiện tượng xuất hiện từ lâu trong xã hội. nay, nhiều nhà nghiên cứu đã cố gắng lý giải hiện tượng nghèo đói, nhất là nguyên nhân và cách khắc phục.
Có thể nói, tiếp cận nguyên nhân nghèo đói và phân hoá giàu nghèo rất đa dạng. Có những nhà nghiên cứu tiếp cận theo khía cạnh thuần tuý kinh tế, cũng có những nhà nghiên cứu tiếp cận nguyên nhân nghèo đói và phân hoá. giàu nghèo chủ yếu từ khía cạnh nhân chủng học hoặc dân số học. Đồng thời cũng.
xuất hiện nhiều nhà nghiên cứu tiếp cận cả nguyên nhân vẻ tự nhiên, kinh tế, chính trị - xã hội. Có nhiều quan điểm về nguyên nhân gây ra nghèo đói, các nhà nghiên cứu. trên thế giới cũng đã phân tích khá toàn diện các nguyên nhân dẫn đến nghèo đói, tuy vậy, cách tiếp cận phân tích các nguyên nhân dẫn đến giàu nghèo rất đa dạng.