Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI HỘ NGHÈO 1.1 Các khái niệm cơ bản trong tiếp cận nghiên cứu: 1.1 Thu nhập: Theo Samuelson và Nordhause (1997), thu nhập là số tiền thu được hay tiền mặt mà mộ người hay hộ gia đình kiếm được trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm). Tổng cục Thống kê (2010) định nghĩa về thu nhập như sau: Thu nhập là tổng số tiền mà một người hay một gia đình kiếm được trong một ngày, 1 tuần hay 1 tháng; hay nói cụ thể hơn là tất cả những gì mà người ta thu được khi bỏ công sức lao động một cách chính đáng được gọi là thu nhập. Thu nhập bình quân/người/tháng được tính bằng cách chia tổng số thu nhập trong năm của hộ gia đình cho số nhân khẩu của hộ và chia cho 12 tháng. * Thu nhập của hộ: Theo Singh và Strauss (1986) cho rằng thu nhập của hộ gia đình gồm thu nhập chính từ nông nghiệp và thu nhập từ phi nông nghiệp.
Theo Tổng cục Thống kê (2010) định nghĩa: Thu nhập của hộ gia đình là toàn bộ số tiền và giá trị hiện vật quy thành tiền sau khi đã trừ chi phí sản xuất mà hộ gia đình và các thành viên trong hộ nhận được trong một thời gian nhất định, thường là một năm. Thu nhập bao gồm: (1) thu nhập từ tiền công, tiền lương; (2) thu nhập từ sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản (sau khi đã trừ chi phí và thuế sản xuất); (3) thu nhập từ ngành nghề phi nông, lâm, thủy sản (sau khi đã trừ chi phí sản xuất và thuế sản xuất); (4) thu khác được tính vào thu nhập như cho biếu, mừng, lãi tiết kiệm,… Cần lưu ý giữa các khoản thu tính vào thu nhập và các khoản thu không tính vào thu nhập. Các khoản không tính vào thu nhập gồm rút tiền tiết kiệm, thu nợ, bán tài sản, vay nợ, tạm ứng và các khoản chuyển nhượng vốn nhận được do liên doanh, liên kết trong sản xuất kinh doanh,… 123doc 5 1.2 Các nhân tố tác động đến thu nhập hộ gia đình: Qua việc lược khảo tài liệu và các nghiên cứu có liên quan, tác giả đánh giá sơ bộ các nhân tố chính tác động đến thu nhập hộ gia đình, cụ thể là hộ gia đình khu vực nông thôn bao gồm: a. Nghề nghiệp chính của chủ hộ: Đa số người lao động trong lĩnh vực nông nghiệp đều có thu nhập thấp hơn so với các khu vực còn lại (phi nông nghiệp) do lao động trong lĩnh vực nông nghiệp thường có nhiều rủi ro hơn như: thiên tai, dịch bệnh, giá cả thị trường không ổn định.
Trong nghiên cứu của Nguyễn Sinh Công (2004) tại địa bàn huyện Cờ Đỏ, Thành phố Cần Thơ đã kết luận rằng: với giả định các yếu tố không đổi, nếu chủ hộ làm nghề nông thì thu nhập bình quân đầu người sẻ giảm 16,35%. Theo nghiên cứu của Trương Minh Lễ (2010), nghiên cứu về tình trạng nghèo huyện Tri Tôn tỉnh An Giang đã kết luận rằng: khi các yếu tố khác không đổi, nếu hộ này làm nông nghiệp thì dẫn đến thu nhập thấp và xác suất nghèo của hộ tăng lên 80,09%. Nguyễn Hữu Tịnh (2010), trong 330 hộ điều tra mẫu tại huyện Bù Đăng tỉnh Bình Phước kết luận: tỷ lệ hộ nghèo (thu nhập thấp) của nhóm hộ có chủ hộ làm nghề phi nông nghiệp là 4,55%, trong khi đó tỷ lệ hộ nghèo đối với chủ hộ làm lĩnh vực nông nghiệp là 11,19% (cao hơn 6,64% so với chủ hộ làm nghề phi nông nghiệp). Điều này cho thấy thu nhập của nhóm hộ làm lĩnh vực nông nghiệp là rất thấp so với hộ có nghề nghiệp lĩnh vực phi nông nghiệp.
Kinh nghiệm của chủ hộ: Kinh nghiệm là những kỹ năng, bí quyết trong hoạt động sản xuất, kinh doanh. Theo Kết quả nghiên cứu của Võ Thị Mỹ Trang (2010) ở 180 trang trại và hộ nông dân của 25 xã thuộc 03 huyện phía Bắc tỉnh Bình Dương thì kinh nghiệm có tác động đến thu nhập của hộ nông dân.Wharton (1963) cho rằng nếu tất cả các yếu tố đầu vào là giống nhau, hai nông dân với sự khác nhau về kinh nghiệm và kiến thức thì sẽ có kết quả sản xuất khác nhau hoàn toàn. Theo Bùi Quang Bình (2008), ứng dụng hàm Mincer nghiên cứu về vốn con người đối với thu nhập các hộ sản xuất cà phê ở Tây Nguyên, kết quả nghiên cứu cho 123doc 6 thấy kinh nghiệm làm việc có ảnh hưởng đến thu nhập, nếu chủ hộ có số năm kinh nghiệm tăng 1 điểm thì thu nhập tăng lên 0,577 điểm. Nghiên cứu của Nguyễn Quốc Nghi và cộng sự (2011) tại huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long với số mẫu khảo sát 183 hộ, kết quả kết luận rằng: biến số kinh nghiệm có hệ số dương 0,305 ở mức ý nghĩa 5% cho thấy số năm kinh nghiệm làm việc của chủ hộ càng cao thì thu nhập bình quân của hộ càng tăng.
Trình độ học vấn của chủ hộ: Chất lượng lao động của hộ thể hiện ở trình độ học vấn, sự hiểu biết, kỹ năng, việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật sản xuất,… tuy nhiên người có trình độ học vấn thấp (số năm đi học ít) thường hiểu biết ít và thiếu khả năng tiếp thu các kiến thức chuyên môn để phục vụ cho hoạt động sản xuất của mình dẫn đến hiệu quả sản xuất không cao, thu nhập thấp. Theo Yang (2004) cho rằng học vấn là mấu chốt của sự phát triển và trình độ học vấn cũng giúp nông dân tăng cường khả năng nắm bắt thông tin, điều đó một phần giúp người nông dân có cơ hội tham gia hoạt động phi nông nghiệp và tìm việc làm ở đô thị. Solow (1957) cho rằng giáo dục làm cho lao động hiệu quả hơn thông qua các tiến bộ kỹ thuật. Điều này xuất phát từ thực tế là giáo dục cho phép mọi người thích nghi dễ dàng hơn với những thay đổi của xã hội và kỹ thuật.
Vì vậy, trình độ học vấn của chủ hộ và những người trong gia đình ảnh hưởng đến khả năng tăng thu nhập của gia đình. Marshall (1890), kiến thức là động lực mạnh mẽ của sản xuất. Cùng với quan điểm này Wharton (1963) cho rằng: với tất cả nguồn lực đầu vào giống nhau, hai nông dân khác biệt nhau về trình độ kỹ thuật nông nghiệp sẽ có kết quả sản xuất khác nhau. Một tỷ lệ lớn người nghèo là nông dân, những người thường thiếu những kỹ năng, kỹ thuật sản xuất và khả năng tiếp cận với các nguồn lực phát triển khác cũng rất thấp.
Okurut và cộng sự (2002) trong phân tích về nghèo ở Uganda ông kết luận rằng trình độ học vấn của chủ hộ càng cao thì hộ gia đình càng giàu có. Bùi Quang Bình (2008) và Nguyễn Đức Thắng (2002) cũng kết luận rằng những người có trình độ học vấn cao hơn sẽ có mức thu nhập cao hơn. Số nhân khẩu trong hộ: 123doc 7 Hộ gia đình đông con thì thu nhập bình quân đầu người của hộ sẽ giảm, điều này càng đúng khi các hộ gia đình nông thôn, nhất là hộ đồng bào dân tộc Khmer phần đông là sản xuất nông nghiệp để tạo ra thu nhập là chủ yếu, vì thế trong điều kiện diện tích đất canh tác hạn chế, việc tăng nhân khẩu sẽ làm giảm thu nhập bình quân của hộ. Trong nghiên cứu của Đinh Phi Hổ (2006), tại tỉnh Bình Phước, quy mô hộ tập trung của tỉnh là 4,76 người/hộ, trong khi đó quy mô trung bình của hộ nghèo là 5,46 người/hộ, hộ giàu là 2,82 người/hộ.
Điều này chứng tỏ hộ gia đình có thu nhập cao thì số người trong hộ ít hơn so với hộ gia đình có thu nhập thấp. Nghiên cứu của Nguyễn Sinh Công (2004) khẳng định: Nếu quy mô của hộ gia đình tăng thêm một người thì thu nhập bình quân đầu người của hộ sẽ giảm 9,2%. Tỷ lệ phụ thuộc: Theo Nguyễn Trọng Hoài (2010), người phụ thuộc là người không tham gia lao động tạo ra thu nhập cho hộ, số người phụ thuộc càng cao đồng nghĩa với việc có nhiều người ăn theo hơn nhưng lại có ít người lao động hơn. Kết quả cho thấy tỷ lệ phụ thuộc càng cao thì gánh nặng đối với hộ gia đình càng lớn.
Các thành viên có lao động phải gánh nặng cho các thành viên không thể lao động, do đó sẽ làm giảm thu nhập bình quân của hộ. Theo nghiên cứu của Nguyễn Sinh Công (2004) đã kết luận rằng nếu tỷ lệ phụ thuộc càng cao thì thu nhập bình quân đầu người của hộ gia đình càng thấp. Nghiên cứu của Trương Châu (2014), tại địa bàn các xã biên giới của tỉnh Tây Ninh, cho rằng tỷ lệ phụ thuộc có quan hệ nghịch biến với biến phụ thuộc (biến thu nhập). Với các yếu tố khác không đổi, nếu quy mô hộ tăng thêm 1 người thì thu nhập bình quân của hộ sẽ giảm 133.
Diện tích đất sản xuất: Theo Huỳnh Trường Huy và cộng sự (2008) cho rằng đất đai là tài sản quan trọng đối với Hộ nông dân và khả năng tiếp cận với đất (về số lượng và chất lượng) là một yếu tố quyết định đối với sản xuất nông nghiệp và có ảnh hưởng đến thu nhập của Hộ. Do thiếu đất sản xuất nông nghiệp hoặc không có đất sản xuất nông nghiệp thường dẫn đến thu nhập của hộ thấp. Nghiên cứu cũng cho thấy diện tích đất đai của Hộ nông dân có ảnh hưởng chiều thuận đối với thu nhập bình quân đầu người của Hộ gia đình, các 123doc 8 hộ gia đình có diện tích đất sản xuất nông nghiệp lớn thường là các hộ khá, giàu. Phần lớn các hộ nghèo là những hộ có diện tích đất ít hoặc không có đất sản xuất.
Tình trạng hộ nông dân không có đất sản xuất hoặc có rất ít đất sản xuất cũng là khó khăn lớn cho việc nâng cao thu nhập, bởi vì với diện tích nhỏ hẹp, mỗi hộ tự canh tác riêng lẻ, sẽ rất trở ngại cho sản xuất hiện đại, từ đó giá thành sản phẩm cao không đồng đều, sản xuất lãi ít dẫn đến thu nhập thấp. Theo Nguyễn Sinh Công (2004), Mwanza (2011) đã chứng minh cho thấy thu nhập của hộ tỷ lệ thuận với diện tích đất sản xuất, tức diện tích đất sản xuất càng nhiều thì thu nhập của hộ càng cao. Số hoạt động tạo ra thu nhập: Hoạt động nông nghiệp là hoạt động chủ yếu ở nông thôn, tuy nhiên các hoạt động nông nghiệp thường theo mùa vụ và phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên. Việc đa dạng hóa nguồn thu nhập (nghề nghiệp phụ) giúp hộ nông thôn cải thiện và tăng thêm thu nhập.