phần mở đầu và kết luận nội dung luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng. Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận và kinh nghiệm về hoạt động cho vay hộ nghèo của ngân hàng Chính sách xã hội Chƣơng 2: Thực trạng chất lƣợng hoạt động cho vay hộ nghèo tại ngân hàng chính sách xã hội tỉnh Phú Thọ. Chƣơng 3: Định hƣớng và giải pháp nâng cao chất lƣợng hoạt động cho vay hộ nghèo tại ngân hàng chính sách xã hội Tỉnh Phú Thọ. 6 z CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY HỘ NGHÈO CỦA NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI 1.
Ngân hàng Chính sách xã hội và vai trò của nó đối với sự phát triển kinh tế của hộ nghèo 1.1 Hộ nghèo và nhu cầu vốn cho phát triển kinh tế của hộ nghèo 1. Khái niệm hộ nghèo Hiện nay, Việt Nam vẫn thuộc nhóm các nƣớc nghèo trên thế giới. Nghèo đói xuất hiện ở những hộ có thu nhập thấp và bấp bênh, tập trung ở các vùng có điều kiện sống khó khăn, tài nguyên thiên nhiên nghèo nàn, khí hậu tự nhiên khắc nghiệt khiến cho các điều kiện sản xuất bị ảnh hƣởng tiêu cực. Nghèo đói là hiện tƣợng phổ biến ở nông thôn với trên 90% số ngƣời nghèo cả nƣớc.
Phần đông số ngƣời nghèo là nông dân với trình độ tay nghề thấp, khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn lực sản xuất nhƣ vốn, công nghệ, kỹ thuật, thị trƣờng tiêu thụ. Những ngƣời nông dân nghèo thƣờng không có điều kiện chuyển đổi sang các ngành phi nông nghiệp đem lại thu nhập cao và ổn định hơn. Nghèo đói mang tính chất phân vùng rõ rệt. Tỷ lệ nghèo đói khá cao ở các vùng sâu, vùng xa, vùng núi cao nơi các dân tộc thiểu số sinh sống.
Điều kiện sống khó khăn, khả năng tiếp cận với các điều kiện sản xuất kinh doanh và dịch vụ còn nhiều hạn chế càng làm tăng tỷ lệ hộ nghèo đói ở khu vực này. Chính phủ đã đầu tƣ và hỗ trợ rất tích cực nhƣng cuộc sống của các dân tộc thiểu số vẫn còn nhiều khó khăn và bất cập. Đa số các dân tộc ít ngƣời sống ở các vùng bị cô lập về địa lý, văn hóa, thiếu điều kiện phát triển về cơ sở hạ tầng và các dịch vụ xã hội khác. 7 z Nghèo đói đƣợc đánh giá dƣới 2 góc độ: nghèo tuyệt đối và nghèo tƣơng đối.
Nghèo tuyệt đối: là khái niệm nhằm biểu thị sự thiếu hụt so với một mức sống (những nhu cầu tối thiểu). Nghèo tuyệt đối thƣờng đƣợc tính toán trên nhu cầu dinh dƣỡng và một số hàng hóa khác. Nghèo tương đối: đƣợc xem xét trong tƣơng quan xã hội mà đôi khi chúng ta tập trung vào phần dân số nghèo nhất (1/5 hay 2/5); nghèo tƣơng đối là sự thiếu hụt so với mức sống hiện thời. Hay nói cách khác, nghèo tƣơng đối là vị trí của một số ngƣời hoặc một số hộ gia đình so với thu nhập bình quân của một nƣớc nơi hộ đó sinh sống.
Nƣớc ta về cơ bản đã xóa đƣợc đói nhƣng vẫn là một trong những nƣớc nghèo trên thế giới. Theo báo cáo sơ bộ, tính đến cuối năm 2013, cả nƣớc còn 8% hộ nghèo giảm gần 2 % so với năm 2012, riêng các huyện nghèo giảm bình quân 5%/năm. Thời gian tới, công cuộc xoá đói giảm nghèo sẽ đòi hỏi nhiều nỗ lực hơn từ phía chính phủ, xã hội, cộng đồng và bản thân hộ nghèo. Đồng thời các tác động của quá trình toàn cầu hóa và hội nhập, bên cạnh các thời cơ thuận lợi cũng xuất hiện nhiều thách thức mới đối với công cuộc xoá đói giảm nghèo.
Hộ nghèo đƣợc hiểu là những hộ có thu nhập bình quân đầu ngƣời dƣới ngƣỡng nghèo. Tiêu chí chủ yếu để xác định hộ nghèo là thu nhập bình quân đầu ngƣời. Thu nhập bình quân đầu ngƣời dựa vào chuẩn nghèo của từng vùng, từng khu vực, từng quốc gia đƣợc ban hành trong các giai đoạn cụ thể. Sở dĩ nhƣ vậy vì mỗi vùng, mỗi khu vực, mỗi một quốc gia có đặc điểm kinh tế - xã hội khác nhau, tốc độ phát triển cũng không thể giống nhau.
Hơn nữa, khi tình hình kinh tế có sự biến động, giá cả không ổn định thì chuẩn nghèo cũng thay đổi cho phù hợp. 8 z Từ năm 1993 đến nay, Việt Nam đã 4 lần nâng chuẩn nghèo, trong đó chuẩn nghèo giai đoạn 2001 -2005: Hộ đƣợc coi là nghèo tính theo hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu ngƣời, bao gồm: khu vực nông thôn miền núi và hải đảo ≤ 80.000 đồng/ngƣời/tháng (960.000 đồng/ngƣời/năm), khu vực nông thôn đồng bằng ≤ 100.000 đồng/ngƣời/tháng (1.000 đồng/ngƣời/năm), khu vực thành thị ≤ 150.000 đồng/ngƣời/tháng (1.000 đồng/ngƣời/năm). Do mức sống của ngƣời dân nói chung ngày càng tăng, cùng với định hƣớng chung là từng bƣớc tiếp cận với các nƣớc đang phát triển trong khu vực về xoá đói giảm nghèo, nên chuẩn nghèo giai đoạn 2001-2005 không còn phù hợp với giai đoạn mới. Vì vậy, Thủ tƣớng Chính phủ đã ký Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg ngày 8/7/2005 ban hành tiêu chí chuẩn nghèo mới cho giai đoạn 2006-2010: ở khu vực nông thôn là những hộ có thu nhập 200.000 đồng/ngƣời/tháng trở xuống, ở thành thị tƣơng ứng là 260.
Đối với giai đoạn 2011 – 2015 thực hiện Quyết định số 09/2011/QĐ- TTg ngày 30/11/2011 của Thủ tƣớng Chính phủ, chuẩn nghèo mới áp dụng: Hộ gia đình ở nông thôn có mức thu nhập bình quân dƣới 400.000đồng /ngƣời /tháng (4.8 triệu đồng/ngƣời/năm) đƣợc coi là hộ nghèo. Ở khu vực thành thị, những hộ có mức thu nhập bình quân dƣới 500.000 đồng/ngƣời/tháng (dƣới 6 triệu đồng/ngƣời/ năm) đƣợc coi là hộ nghèo. Nhu cầu vốn phát triển kinh tế của hộ nghèo Theo điều tra xã hội học về nguyên nhân nghèo đói của các hộ nông dân ở nƣớc ta cho thấy có gần 70% số hộ đƣợc điều tra nghèo xuất phát từ thiếu vốn. Do không có đủ vốn đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh nhiều hộ rơi vào vòng luẩn quẩn, làm không đủ ăn phải đi làm thuê, vay nặng lãi, bán lúa non mong đảm bảo cuộc sống tối thiểu hàng ngày nhƣng nguy cơ nghèo đói vẫn đe dọa họ.
9 z Trong những năm qua, công cuộc xoá đói giảm nghèo của Việt Nam đã đạt đƣợc những bƣớc tiến đáng kể song nghèo đói vẫn còn tồn tại trên cả diện rộng và bề sâu. Một trong những nguyên nhân của sự tồn tại đói nghèo là do cơ chế chính sách tác động. Cơ cấu đầu tƣ chƣa hợp lý, tỷ lệ đầu tƣ cho nông nghiệp và nông thôn còn thấp, chủ yếu tập trung cho thuỷ lợi, các trục công nghiệp chính, chú trọng nhiều vào đầu tƣ thay thế nhập khẩu, nhiều chính sách trợ cấp không đúng đối tƣợng làm ảnh hƣởng xấu đến sự hình thành thị trƣờng nông thôn, vùng sâu vùng xa. Cải cách doanh nghiệp Nhà nƣớc làm mất đi gần 800.000 việc làm trong giai đoạn đầu cải cách, gây khó khăn cho đời sống của những công nhân mất việc, nhiều ngƣời không tìm đƣợc việc làm mới và rơi vào cảnh nghèo đói.
Vì vậy, Nhà nƣớc ta cần phải xây dựng hệ thống chính sách đồng bộ khuyến khích ngƣời dân phát triển sản xuất. Để thực hiện mục tiêu trên, cần huy động tổng hợp các nguồn lực trong và ngoài nƣớc, kêu gọi sự tham gia của đông đảo các tổ chức và tầng lớp nhân dân. Có thể tăng tốc độ thực hiện xóa đói giảm nghèo bằng những nỗ lực to lớn hơn nữa nhằm giảm mức độ cách biệt của ngƣời dân, tăng phạm vi lựa chọn và khả năng tiếp cận với các nguồn lực hiện có, kiểm soát tốt hơn các rủi ro, đảm bảo môi trƣờng bền vững cũng nhƣ bảo đảm sự tham gia rộng rãi hơn của quần chúng nhân dân trong quá trình lập kế hoạch và ra quyết định. Việc mở rộng sự lựa chọn trong lĩnh vực phát triển con ngƣời cho ngƣời nghèo là một chiến lƣợc quan trọng trong công cuộc xóa đói giảm nghèo.
Ngƣời nghèo cần phải có nhiều cơ hội hơn trong việc lựa chọn nghề nghiệp cũng nhƣ lối sống. Con đƣờng ngắn nhất để đạt đƣợc mục tiêu xóa đói giảm nghèo là tạo ra một môi trƣờng thuận lợi hơn giúp cho ngƣời nghèo có thể sử dụng hiệu quả hơn những nguồn lực sẵn có, tăng khả năng tiếp cận những nguồn lực mới và đƣợc hƣởng thụ công bằng các dịch vụ xã hội cơ bản để họ có thể tự giúp 10 z mình thoát khỏi cảnh nghèo đói. Một trong những nguồn lực giúp ngƣời nghèo tự thoát khỏi cảnh nghèo đói chính là vốn vay ƣu đãi. Tại Hội nghị Ban chấp hành Trung ƣơng lần thứ V (khóa VII), Đảng ta đã đề ra chủ trƣơng về xóa đói giảm nghèo: “…phải hỗ trợ giúp người nghèo bằng cách cho vay vốn, hướng dẫn cách làm ăn, tranh thủ các nguồn tài trợ nhân đạo trong và ngoài nước, phấn đấu tăng hộ giàu đi đôi với xóa đói giảm nghèo…”.
Cùng với chủ trƣơng của Nhà nƣớc về xóa đói giảm nghèo nhằm phát triển kinh tế bền vững, tín dụng ƣu đãi của Ngân hàng Chính sách xã hội đã và đang phát huy tác dụng của nó. Vai trò của ngân hàng Chính sách xã hội đối với hộ nghèo 1.- Khái quát về ngân hàng Chính sách xã hội Biện pháp hạn chế đói nghèo có nhiều, trong đó có chƣơng trình tín dụng cho hộ nghèo. Nhằm mục đích tách bạch cho vay chính sách và cho vay thƣơng mại, để các ngân hàng thƣơng mại hoạt động đúng tính chất là thƣơng mại trong cơ chế thị trƣờng, đảm bảo hiệu quả bền vững cho các đơn vị kinh doanh tiền tệ. Do vậy cần có tổ chức tín dụng chuyên biệt để cho vay hộ nghèo.
Ngày 04/10/2002 Thủ tƣớng Chính phủ ban hành Quyết định 131/2002/QĐ-TTg về việc thành lập NHCSXH trên cơ sở tổ chức lại Ngân hàng phục vụ ngƣời nghèo đƣợc thành lập theo Quyết định số 230/QĐ-NH5, ngày 01/9/1995 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam. NHCSXH có bộ máy quản lý và điều hành thống nhất trong phạm vi cả nƣớc, là một pháp nhân, có vốn điều lệ, có con dấu, có tài sản và hệ thống giao dịch từ trung ƣơng đến địa phƣơng. Vốn Điều lệ ban đầu là 5.000 đồng (năm nghìn tỷ đồng) và đƣợc cấp bổ sung phù hợp với yêu cầu hoạt động từng thời kỳ, hoạt động phi lợi nhuận. Theo quy định, ngân hàng đƣợc phép huy động vốn của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nƣớc, tiếp nhận tiền gửi, đƣợc miễn thuế và các khoản 11 z phải nộp NSNN.
Nhà nƣớc đảm bảo khả năng thanh toán cho NHCSXH, tỷ lệ dự trữ bắt buộc 0%, không phải tham gia bảo hiểm tiền gửi.