chương 1 Tác giả trình bày tổng quan về đề tài nghiên cứu; mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, thời gian nghiên cứu, ý nghĩa thực tiễn của đề tài cũng như cấu trúc của luận văn. 8 CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ KHẢO LƯỢC CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIỆN QUAN Nhằm trình bày hệ thống các khái niệm, lý thuyết về nghèo đa chiều, các phương pháp tiếp cận nghèo đa chiều. Ngoài ra nghiên cứu còn khảo lược một số nghiên cứu trong và ngoài nước về phân tích các yếu tố tác động tình trạng nghèo đa chiều. Từ đó, tìm ra các yếu tố tác động đến nghèo đa chiều tại phường Vĩnh Lạc thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang và đưa ra mô hình nghiện cứu.
Khung khái niệm Định nghĩa về nghèo. Hội nghị chống nghèo đối khu vực Châu Á - Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Bangkok, Thái Lan tháng 9/1993 đã đưa ra định nghĩa: "Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của địa phương". Theo Ngân hàng phát triển Châu Á: "Nghèo là tình trạng thiếu những tài sản cơ bản là cơ hội mà mỗi con người có quyền được hưởng. Mọi người cần được tiếp cận với giáo dục cơ sở và các dịch vụ chăm sóc y tế cơ bản.
các hộ nghèo có quyền duy trì cuộc sống bằng chính lao động của họ và được trả công một cách hợp lý, cũng như được sự bảo trợ khi có biến động bên ngoài: Theo Amartya Kumar Sen, Nhà Kinh tế học Ấn Độ (Giải nobel kinh tế 1998) : để tồn tại con người cần có những nhu cầu vật chất và tinh thần tối thiểu; dưới mức tối thiểu này, con người sẽ bị coi là đang sống trong nghèo nàn (theo chính phủ 2015). Các khái niệm trên cho thấy sự thống nhất cao của các nước, các tổ chức quốc tế cho rằng nghèo là sự thiếu hụt, hay là sự bất lực trong việc tiếp cận đến mức sống mà xã hội chấp nhận ( World Bank, 2001, trích bởi FAO, 2005). Ngân hàng thế giới cũng coi nghèo là sự thiếu hụt hạnh phúc (World Bank institute, 2005). Hay tình trạng nghèo là một người hoặc một hộ gia đình không được hưởng và thỏa mãn nhu cầu cơ bản cho 9 cuộc sống (ăn, mặc, ở, được chăm sóc y tế, được giáo dục cơ bản và được hưởng các dịch vụ cần thiết khác) mà được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế-xã hội của mỗi nước (World Bank 2010).
Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức tại Copenhagen ở Đan Mạch năm 1995, đưa ra định nghĩa nghèo đói “ Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới 1 USD mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ để mua những sản phẩm thiết yếu tồn tại” Khái niệm rộng hơn về nghèo thì nghèo có thể được giải thích bởi các chỉ báo đa chiều (Anand and sen, 1977). Nghèo không chỉ được đo lường bằng thu nhập, chi tiêu mà còn bởi khả năng tiếp cận một cách đồng thời đến lương thực, nhà ở, giáo dục, chăm sóc sức khỏe và các mức sống xã hội khác, ngay cả các chỉ báo phi vật chất. Nói cách khác, nghèo đa chiều được phản ánh bằng sự thiếu hụt phúc lợi xã hội ở các khía cạnh khác nhau. Nghèo có nghĩa là không đủ ăn, đủ mặc, không được đi học, không được khám chữa bệnh, không có đất đai để trồng trọt hoặc không có nghề nghiệp nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng.
Nghèo cũng có nghĩa là không an toàn, không có quyền, và bị loại trừ, dễ bị bạo hành, phải sống trong các điều kiện rủi ro, không tiếp cận được nước sạch và công trình vệ sinh. Sự thiếu hụt cơ hội, đi kèm với tình trạng suy dinh dưỡng, thất học, bệnh tật, bất hạnh và tuyệt vọng là những nội dung được quan tâm trong khái niệm nghèo đa chiều. Thiếu sự tham gia và tiếng nói về kinh tế, xã hội hay chính trị sẽ đẩy các cá nhân đến tình trạng bị loại trừ, không được thụ hưỡng các lợi ích phát triển kinh tế - xã hội và do vậy bị tước đi các quyền con người cơ bản (UN, 2008,2012, trích trong Đặng Nguyên Anh, 2015). Các phương pháp xác định chuẩn nghèo.
Phương pháp xác định chuẩn nghèo quốc tế. Phương pháp xác định chuẩn nghèo của Tổng Cục Thống Kê -Ngân Hàng Thế giới được xây dựng theo phương pháp chuẩn chi phí của những nhu cầu cơ bản, dựa trên một rổ lương thực tham khảo cho các hộ nghèo tính theo lượng calo mà mỗi người dân tiêu tốn một ngày cộng với một khoản bổ sung cho những nhu cầu phi lương thực thiết yếu dựa trên mô hình tiêu dùng của người nghèo. Theo Ngân Hàng Thế Giới, chi phí lương thực, thực phẩm cần thiết để duy trì cuộc sống của người dân các nước đang phát triển và khu vực ASEAN tương ứng với mức tiêu dùng nhiệt lượng từ 2100-2300 calo/người/ngày hoặc mức thu nhập bình quân tính ra tiền 370USD/người/năm.1: Tiêu chuẩn nghèo đói của World Bank Tiêu chuẩn nghèo Khu vực Mức thu nhập hoặc chi tiêu USD/người/ năm Năm 2003 1 USD hoặc 360 USD/năm Năm 2008 1,25 USD hoặc 450 USD/năm Nguồn: World Bank 2008 2. Phương pháp xác định chuẩn đói nghèo của chương trình xóa đói giảm nghèo của Việt Nam.
Căn cứ vào quy mô và tốc độ tăng trưởng kinh tế, nguồn lực tài chính và mức sống thực tế của người dân của từng vùng, Bộ lao động - thương binh và xã hội đưa ra chuẩn nghèo đói trong từng thời kỳ, áp dụng cho từng vùng, dựa trên thu nhập bình quân đầu người hàng tháng. Chuẩn nghèo được tính toán dựa trên phương pháp xác định chi phí cho các nhu cầu tối thiểu của con người (đo bằng chi tiêu cho lương thực, thực phẩm đáp ứng nhu cầu năng lượng tối thiểu cần thiết để duy trì sinh hoạt bình thường của con người, khoảng 2100-2300calo/người/ngày và nhu cầu phi lương thực). Đây là một 11 trong những phương pháp được các tổ chức quốc tế khuyến nghị áp dụng cho các nước đang phát triển, cũng là phương pháp áp dụng ở nước ta từ trước đến năm 2015. Nước ta đã có 06 lần điều chỉnh chuẩn nghèo, theo hướng ngày càng đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người nghèo.2: Quy định về chuẩn nghèo đói của Việt Nam qua các giai đoạn Chuẩn nghèo qua các Phân loại nghèo Mức thu nhập bình giai đoạn quân/người/tháng Nghèo (khu vực nông thôn) Dưới 15kg Giai đoạn 1993-1995 Nghèo (khu vực thành thị) Dưới 20kg (mức thu nhập quy ra gạo) Nghèo (khu vực nông thôn Dưới 15kg Giai đoạn 1996-1997 miền núi, hải đảo) (mức thu nhập quy ra Nghèo (khu vực nông thôn Dưới 20kg gạo) đồng bằng, trung du) Nghèo (khu vực thành thị) Dưới 25kg Nghèo (khu vực nông thôn Dưới 15kg (tương Giai đoạn 1998-2000 miền núi, hải đảo) đương 55.000 đồng) tiền) Nghèo (khu vực thành thị) Dưới 25kg (tương đương 90.000 đồng) Nghèo (khu vực nông thôn 80.000 đồng Giai đoạn 2001-2005 miền núi, hải đảo) (960.000 đồng/năm) 12 (mức thu nhập tính Nghèo (khu vực nông thôn 120.000 đồng bằng tiền) đồng bằng, trung du) (1.000 đồng / năm) Nghèo (khu vực nông thôn) Dưới 200.000 đồng Giai đoạn 2006-2010 ( 2.000 đồng/ năm) (mức thu nhập tính Dưới 260.000 đồng bằng tiền) Nghèo (khu vực thành thị) (3.000 đồng/ năm) Nghèo (khu vực nông thôn) Dưới 400.000 đồng Giai đoạn 2011-2015 (4.000 đồng bằng tiền) (6.000 đồng/năm) Nguồn: Bộ lao động- thương binh và xã hội Có thể đo lường nghèo đa chiều bằng các khía cạnh kinh tế - xã hội khác nhau, kể cả văn hóa.
Chúng ta có thể thấy mối quan hệ chặt chẽ giữa tình trạng nghèo về tiền bạc và tình trạng kinh tế -xã hội của cá nhân hộ gia đình. Việc chọn các chỉ báo phù hợp để đo lường nghèo đa chiều vẫn chưa thực sự rõ ràng. Các chỉ báo tiềm năng lại có thể biến đổi theo bối cảnh kinh tế - xã hội và con người cụ thể ở từng địa điểm nghiên cứu, và phải phù hợp với văn hóa địa phương đó. Nếu chọn lựa được các chỉ báo phù hợp, việc đo lường nghèo đa chiều sẽ trở nên chính xác hơn.
để đạt được yêu cầu này cần phải chọn lựa cẩn thận, hợp lý và cần phải có sự thấu hiểu về các quan hệ qua lại giữa các chỉ báo. Tuy nhiên, việc xác định chuẩn nghèo dựa trên mức chi phí đáp ứng những nhu cầu tối thiểu và được quy ra bằng tiền trong thời gian qua đã bắt đầu bộc lộ những hạn chế. 13 Thứ nhất, việc áp dụng duy nhất tiêu chí thu nhập để xác định đối tượng hộ nghèo, đã vẫn đến sự phân loại đối tượng chưa thật sự chính xác vì chuẩn nghèo hiện hành chưa phản ánh được đầy đủ các nhu cầu cơ bản cũng như thực trạng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, lại được duy trì ở một giai đoạn trong điều kiện chỉ số giá tiêu dùng (CBI) hàng năm điều tăng dẫn đến giá trị chuẩn nghèo không còn phù hợp, không đáp ứng được nhu cầu đảm bảo mức sống tối thiểu cho người dân. Trong bối cảnh cơ cấu kinh tế- xã hội đang thay đổi, đô thị hóa và di cư đang tăng nhanh hiện nay đang tạo ra một bộ phận lớn người dân thuộc nhóm cận nghèo thu nhập hoặc chưa tiếp cận đầy đủ với các dịch vụ xã hội cơ bản, đang đối mặt với nhiều rủi ro khiến họ có thể rơi vào tình trạng đói nghèo.
Thứ hai, một số nhu cầu cơ bản của con người quy ra tiền (vị thế xã hội, an ninh.) hoặc không thể mua bằng tiền (một số dịch vụ y tế, giáo dục công, giao thông, an ninh, môi trường. Thứ ba, có những trường hợp hộ gia đình có tiền nhưng không chi tiêu vào việc đáp ứng những nhu cầu tối thiểu (do những lý do khách quan như không có sẵn dịch vụ hay lý do chủ quan như tập tục văn hóa hay chính nhận thức của người dân). Thứ tư, các chính sách giảm nghèo được xây dựng dựa trên tiêu chí thu nhập chủ yếu nhằm xử lý vấn đề thiếu tiền và khả năng chi trả dịch vụ, do vậy chưa thực sự tác động đến các nguyên nhân khác của nghèo đói như vấn đề khó tiếp cận dịch vụ, dịch vụ không có sẵn hoặc không phù hợp, thiếu nhận thức và chủ động từ người dân.