phần mở đầu, kết luận và danh mục tham khảo, luận văn gồm 3 chương, 8 tiết. Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về nguồn nhân lực chất lượng cao cho phát triển kinh tế - xã hội. Chƣơng 2: Thực trạng nguồn nhân lực chất lượng cao cho phát triển kinh tế - xã hội Hải Dương trong những năm qua. Chƣơng 3: Phương hướng và giải pháp chủ yếu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho phát triển kinh tế - xã hội ở Hải Dương.
5 z Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƢỢNG CAO CHO PHÁT TRIỂN KINH TẾ- XÃ HỘI 1. Nguồn nhân lực chất lƣợng cao và các tiêu chí đánh giá 1. Khái niệm nguồn nhân lực chất lượng cao Trong những năm gần đây, các nước trên thế giới hầu hết đều coi nguồn nhân lực chất lượng cao là yếu tố cơ bản, có vai trò quyết định đối với sự phát triển nhanh và bền vững. Trên thực tế, các quốc gia như Singapo, Nhật Bản, Hồng Kông, Hàn Quốc là những nước đạt tốc độ phát triển kinh tế cao liên tục trong nhiều thập kỷ, nên chỉ trong một thời gian ngắn đã biến đất nước họ trở thành các quốc gia có nền kinh tế phát triển.
Yếu tố đóng vai trò quyết định cho sự thành công trong phát triển kinh tế của các quốc gia đó chính là nguồn nhân lực có chất lượng cao. Ở các nước phát triển cao người ta đã tính toán được rằng trong giá trị của những sản phẩm cao cấp thì hàm luợng chất xám chiếm 70%, năng lượng 10%, nguyên liệu 10%, thao tác vật chất chỉ chiếm 5,6%. Trong thời đại ngày nay, những quan niệm về vai trò, vị trí của nguồn nhân lực trong phát triển liên tục thay đổi. Nếu như trước đây, người ta nhìn nhận vai trò của nguồn nhân lực chỉ đơn thuần là phương tiện, là một nguồn lực cho phát triển giống như mọi nguồn lực vật chất khác, thì ngày nay, sự nhận thức trên hoàn toàn khác.
Con người, nguồn nhân lực không chỉ là động lực chủ yếu mà còn là mục tiêu của sự phát triển, với phương châm phát triển vì con người. Trí tuệ con người ngày càng được đề cao, vì nó là nguồn lực to lớn và mạnh mẽ nhất cho tiến bộ và phát triển xã hội. Theo Alvin Toffler, mọi nguồn lực tự nhiên đều có thể bị khai thác cạn kiệt, chỉ riêng có trí tuệ là vô tận, bởi "tri thức có tính chất lấy không bao giờ hết”. Ngược lại, NNL, đặc biệt là NNL chất lượng cao, nếu biết khai thác và bồi dưỡng hợp lý thì càng phát triển và có khả năng tái sinh nhanh.
Chính vì lẽ đó, NNL đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học và nhiều lĩnh vực kinh tế khác nhau, và từ đó người ta cũng tìm ra các 6 z phương cách khác nhau để có thể nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội. Ở nước ta từ khi công cuộc đổi mới bước vào giai đoạn đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Đảng và Nhà nước ta cũng đã nhấn mạnh yếu tố quyết định này. Trong những năm gần đây, Đảng ta đã ra hàng loạt các nghị quyết về phương hướng, mục tiêu, điều kiện và giải pháp tác động vào nhiều lĩnh vực có liên quan trực tiếp đến phát triển nguồn nhân lực và con người Việt Nam toàn diện. Nguồn nhân lực được tiếp cận từ nhiều gióc độ khác nhau từ đó có nhiều khái niệm, cách quan niệm khác nhau, có thể tiếp cận ở một số quan niệm sau: Nguồn nhân lực được hiểu theo nghĩa rộng như lý thuyết phát triển, đó là nguồn lực con người của một quốc gia, là một bộ phận của các nguồn lực tham gia vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội.
Nguồn nhân lực khác với nguồn lực khác (vốn, đất đai, công nghệ,.) ở chỗ nguồn lực con người với hoạt động lao động sáng tạo, tác động vào thế giới tự nhiên, biến đổi giới tự nhiên, là yếu tố quan trọng nhất của lực lượng sản xuất. Trong mọi hình thái KT - XH, nguồn nhân lực là yếu tố trung tâm, vai trò quyết định đối với sự phát triển của sản xuất. Đồng thời là mục đích của nền sản xuất xã hội. Theo nghĩa hẹp (xét theo từng thời kỳ) đó là lượng lao động của một quốc gia, là bộ phận dân số trong độ tuổi quy định có khả năng tham gia lao động (ở nước ta được hiểu là bộ phận dân số từ đủ 15 tuổi đến 60 tuổi đối với nam và 55 tuổi đối với nữ trừ những người tàn tật, mất sức lao động loại nặng và cả lao động trẻ em và lao động cao tuổi).
Theo giáo trình kinh tế lao động, thì: nguồn nhân lực được hiểu là nguồn lực con người, là một trong những nguồn lực quan trọng nhất của sự phát triển kinh tế xã hội. Nguồn nhân lực khác với các nguồn lực khác (nguồn lực tài chính, nguồn lực vật chất, nguồn lực công nghệ) là ở chỗ: trong quá trình vận động, NNL chịu tác động của yếu tố tự nhiên (sinh, chết) và yếu tố xã hội (việc làm, thất nghiệp. Chính vì vậy, NNL là một khái niệm khá phức tạp, được nghiên cứu dưới nhiều giác độ khác nhau. Nguồn nhân lực còn được hiểu như là 7 z nơi sinh sản, nuôi dưỡng và cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển.
Cách hiểu này muốn chỉ rõ nguồn gốc tạo ra nguồn lực con người, nghiêng về sự biến động tự nhiên của dân số và ảnh hưởng của nó tới sự biến động NNL. Nguồn nhân lực còn được hiểu như một yếu tố tham gia trực tiếp vào quá trình phát triển kinh tế xã hội, là tổng thể những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động. Cách hiểu này cụ thể hơn và có thể lượng hóa được, đó là năng lực lao động của xã hội, bao gồm những người có khả năng lao động, tức là bộ phận chủ yếu và quan trọng nhất trong NNL. Do khi nghiên cứu NNL xuất phát từ nhiều cách tiếp cận khác nhau nên có những khái niệm khác nhau về NNL, nhưng nhìn chung các khái niệm đó đều thống nhất về nội dung cơ bản là: NNL là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, là yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất, giữ vai trò quyết định sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung.
Nguồn nhân lực được nghiên cứu trong luận văn là tổng hợp các chủ thể với những năng lực, phẩm chất nhất định tham gia vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội. “Nguồn nhân lực” hay còn gọi là “Nguồn lực con người” đó là những chủ thể không tồn tại một cách biệt lập mà chúng được liên kết với nhau thành một chỉnh thể thống nhất về tổ chức, tư tưởng và hành động. Tổng hợp những chủ thể này là tổng hợp sức mạnh của một tổng thể người chứ không phải một tập hợp đơn giản về số lượng người. Sức mạnh ấy là cái vốn có bên trong của mỗi người và được nhân lên trong chỉnh thể thống nhất.
Nguồn nhân lực cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội không chỉ bao gồm những con người đã và đang tham gia mà còn bao gồm cả những con người sẽ tham gia vào trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội trong những năm tiếp theo. Nguồn nhân lực là nguồn lực quan trọng nhất để phát triển kinh tế - xã hội trong thời đại ngày nay. Tuy có nhiều cách hiểu khác nhau cả nghĩa rộng, nghĩa hẹp, nhiều quan điểm của các tổ chức, cá nhân, nhưng nhìn chung nguồn nhân lực được xem xét dưới hai góc độ là số lượng và chất lượng của bộ phận dân cư tham gia vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. 8 z Số lượng nguồn nhân lực được xác định bởi các chỉ tiêu về quy mô và tốc độ tăng của nguồn nhân lực.
Nguồn nhân lực tại một thời điểm thường được xác định về tỷ lệ phần trăm trong tổng dân số. Các chỉ số về số lượng nguồn nhân lực của một quốc gia là dân số, tốc độ tăng dân số, tuổi thọ bình quân, cấu trúc dân số: Số dân ở độ tuổi lao động, số người ăn theo… Số lượng nguồn nhân lực đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội. Nếu số lượng nguồn nhân lực không tương xứng với sự phát triển (thiếu hoặc thừa) thì sẽ ảnh hưởng không tốt tới sự phát triển kinh tế - xã hội. Chất lượng nguồn nhân lực được thể hiện bằng các chỉ tiêu về tình trạng sức khoẻ, trình độ kiến thức, tay nghề, tác phong nghề nghiệp, cơ cấu nguồn nhân lực về tuổi tác, giới tính, thiên hướng ngành nghề, phân bổ theo khu vực và theo lãnh thổ.
Trong nguồn nhân lực, chất lượng nguồn nhân lực đóng vai trò quyết định, nhất là trong giai đoạn hiện nay khi Việt Nam đang thực hiện đẩy mạnh quá trình CNH, HĐH đất nước, KH - CN đang có bước phát triển mạnh mẽ thì nguồn nhân lược chất lượng cao lại càng khẳng định vai trò quyết định trong sự thành công của quá trình này. Như vậy, khi nói tới nguồn nhân lực trước hết phải hiểu đó là toàn bộ những người lao động đang có khả năng tham gia vào các quá trình phát triển kinh tế - xã hội và các thế hệ những người lao động tiếp tục tham gia vào các quá trình phát triển kinh tế xã hội, con người đóng vai trò là chủ thể sáng tạo và chi phối toàn bộ quá trình đó, hướng nó tới mục tiêu đã được chọn. Cho nên NNL còn bao gồm một tổng thể các yếu tố thể lực, trí lực, kỹ năng lao động, thái độ và phong cách làm việc - đó chính là các yếu tố thuộc về chất lượng nguồn nhân lực [28]. Ngoài ra khi nói tới nguồn nhân lực phải nói tới cơ cấu lao động, bao gồm cả cơ cấu đào tạo và cơ cấu ngành nghề.
Khi nói nguồn nhân lực cần nhấn mạnh sự phát triển trí tuệ, thể lực và trình độ chuyên môn nghiệp vụ của con người, bởi vì trí lực là yếu tố ngày càng đóng vai trò quyết định sự phát triển NNL. Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao Phát triển NNL của một quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ chính là sự biến đổi về số lượng và chất lượng NNL cả mặt thể lực, trí lực, kỹ năng, kiến thức và 9 z tinh thần cùng với quá trình tạo ra những biến đổi tiến bộ về cơ cấu NNL.