phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận văn gồm có 3 chương, bao gồm: Chương |. Cơ sở lý luận của Luận văn; Chương 2. Những rào cản trong quá trình chuyển giao công nghệ ở miền núi; Chương 3. Áp dụng mô hình trình diễn để khắc phục rào cản trong quá trình chuyên giao công nghệ ở miên núi.
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA LUẬN VĂN 1. Chuyển giao công nghệ 1. Công nghệ Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm hoặc không kèm công cụ, phương tiện dùng dé biến đổi nguồn lực thành sản phẩm. Có nhiều cách hiểu về công nghệ.
Nhìn chung có thé hiểu công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng dé biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm. Nhu vậy công nghệ là việc phát triển và ứng dụng các dụng cụ, máy móc, nguyên liệu và quy trình dé giúp đỡ giải quyết những vấn đề của con người. Với tư cách là hoạt động con người, công nghệ diễn ra trước khi có khoa học và kỹ nghệ. Nó thể hiện kiến thức của con người trong giải quyết các van đề thực tế dé tạo ra các dụng cụ, máy móc, nguyên liệu hoặc quy trình tiêu chuẩn.
Việc tiêu chuẩn hóa như vậy là đặc thù chủ yếu của công nghệ. Khái niệm về kỹ thuật: Kỹ thuật được hiểu là bao gồm toàn bộ những phương tiện lao động và nhưng phương pháp tạo ra cơ sở vật chất. Công nghệ (có nguồn gốc từ technologia, hay teyvoÀoytœ, trong tiếng Hy Lạp; techne có nghĩa là thủ công và logia có nghĩa là "châm ngôn") là một thuật ngữ rộng ám chỉ đến các công cụ và mưu mẹo của con người. Tùy vào từng ngữ cảnh mà thuật ngữ công nghệ có thé được hiểu: - Công cụ hoặc máy móc giúp con người giải quyết các van dé; - Các kỹ thuật bao gồm các phương pháp, vật liệu, công cụ và các tiến trình dé giải quyết một van dé; - Các sản phẩm được tạo ra hàng loạt và giống nhau; - Sản phẩm có chất lượng cao và giá thành hạ.
Định nghĩa công nghệ do Uỷ ban Kinh tế và Xã hội khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP): Công nghệ là kiến thức có hệ thống về quy trình và kỹ thuật dùng để chế biến vật liệu và thông tin. Nó bao gồm kiến thức, 9 thiết bị, phương pháp và các hệ thống dùng trong việc tạo ra hàng hoá và cung cấp dịch vụ. Các thành phần của công nghệ: Mỗi công nghệ đều bao gồm 4 thành phần chính: - Kỹ thuật (T): bao gồm các máy móc thiết bị. Thành phần kỹ thuật là cốt lõi của bất kỳ công nghệ nào.
Nhờ máy móc, thiết bị, phương tiện mà con người tăng được sức mạnh cơ bắp và trí tuệ trong hoạt động sản xuất. - Con người (H): Bao gồm kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng đo học hỏi, tích lũy được trong quá trình hoạt động, nó cũng bao gồm các tô chất của con người như tính sáng tạo, sự khôn ngoan, khả năng phối hợp, đạo đức lao động. - Thông tin (I): Bao gồm các dữ liệu về phần kỹ thuật, về con người và tổ chức. Các thông số về đặc tính của thiết bi, số liệu về vận hành thiết bị, dé duy trì và bảo dưỡng, dữ liệu dé nâng cao và dit liệu dé thiết kế các bộ phận của phần kỹ thuật.
Thành phần thông tin biểu hiện các tri thức được tích lũy trong công nghệ, nó giúp trả lời câu hỏi "làm cái gì" và "làm như thế nào". Dưới góc độ pháp luật, công nghệ có hai cách hiểu: công nghệ nói chung và công nghệ có thê chuyền giao. Luật Khoa học và Công nghệ đề cập đến công nghệ nói chung (trong đó có công nghệ không thê được chuyền giao, ví dụ công nghệ giáo dục, công nghệ đảo tạo). Còn Luật chuyên giao công nghệ chỉ đề cập đến công nghệ có thể được chuyên giao.
Nhân đây cũng phải bàn thêm về thuật ngữ “công nghệ” trong Dự thảo Luật KH&CN [6;39]. Khoản 2 điều 2 Luật KH&CN 2000 định nghĩa Công nghệ là tập hop các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm. Khoản 2 điều 3 Dự thảo Luật KH&CN định nghĩa Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm theo hoặc không kèm theo công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm. Lý do đề các 10 nhà soạn thảo dự thảo đưa ra sự thay đôi này là “chỉnh sửa cho chính xác va phù hợp với khoản 2 điều 3 Luật chuyển giao công nghệ năm 2006”.
Luận văn không bình luận vê nội ham của khái niệm công nghệ trong hai văn bản vừa nêu, nhưng lý do dé chỉnh sửa lại không thuyết phục bởi lẽ: - Công nghệ trong Luật chuyên giao công nghệ chỉ được hiểu là công nghệ có thể được chuyên giao, tức là công nghệ có thể được thương mại hóa. - Công nghệ trong Luật KH&CN phải được hiểu là công nghệ nói chung, tức là cả công nghệ có thé được thương mại hóa va công nghệ không thể được thương mại hóa. Cần thấy rằng phương pháp, quy trình, kỹ năng. Không có tô chức, cá nhân nào lại bỏ tiền ra mua độc quyền sử dụng phương pháp dạy văn học cô điển, quy trình kiểm tra bài tập của học sinh tiêu học, kỹ năng nghe tiếng Anh cho trẻ em.
Luận văn định nghĩa công nghệ như sau: Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm theo hoặc không kèm theo công cụ, phương tiện dùng dé biến đổi các nguôn lực thành sản phẩm. Trong đó nhẫn mạnh đến công nghệ có thé được chuyên giao và loại trừ công nghệ trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn. Vai trò của công nghệ Nhiều nhà kinh tế đồng ý rằng sự tiến bộ về công nghệ là nhân tố chính cho tăng trưởng kinh tế và đến lượt nó, các họat động nghiên cứu và chuyên giao là động lực chủ yếu cho các tiến bộ về công nghệ. Mặt khác, nhiều nhà kinh tế còn nhấn mạnh hơn và cho rằng các lí thuyết về tăng trưởng cổ điển với việc khang định lao động va vốn thì chưa đủ dé đóng góp cho sự tăng trưởng của nền kinh tế.
Nhà kinh tế hoc Robert Solow, người đã đọat giải Nobel về kinh tế năm 1987 với lí thuyết về vai trò của công nghệ trong tăng trưởng kinh tế chứng minh rang sự thay đổi về công nghệ bao gồm cả công 11 nghệ được cải thiện, và nâng cao trình độ lực lượng lao động là nhân tố chính trong tăng trưởng dài hạn. Một số lý thuyết kinh tế đề cập nhiều đến mối quan hệ giữa tiến bộ về công nghệ và phát triển kinh tế. Lý thuyết tăng trưởng mới nhắn mạnh tốc độ tăng trưởng do nguồn vốn con người, bao gồm các tri thức hay các ý tưởng sáng tạo từ khu vực doanh nghiệp, trường học và chính phủ. Cách tiếp cận này như thế cho rằng các ý tưởng mới là nguồn gốc dẫn đến sự cải tiễn về công nghệ và do đó dẫn đến sự cải thiện về năng suất.
Trong một nền kinh tế toàn cầu cạnh tranh như hiện nay, các quốc gia cần duy trì sự phát triển về công nghệ trong hầu hết các khu vực kinh tế. Hàn Quốc và Đài Loan là những ví dụ điển hình về sự đầu tư vào phát triển công nghệ, dé từ đó, chuyển các doanh nghiệp nội địa thành các công ty toàn cầu. Trong khi đó, Singapore thì thực hiện việc thương mại hóa công nghệ dé dat được sự tăng trưởng kinh tế. Một đặc điểm nỗi bật của thế giới ngày nay là sự phân chia giàu nghèo ngày càng lớn giữa các nước phát triển và dang phát triển.
Một số nước đang phát triển ở Châu Á, đặc biệt là tại các nước Đông Nam Á đã vươn lên rút ngắn thời gian và đạt được sự tăng trưởng nhanh chóng, giảm khoảng cách giàu nghèo trong khuôn khổ của phát triển bền vững bằng con đường CNH. Trong đó, vai trò thúc day của công nghệ đóng vai trò cốt lõi của mọi quá trình. Có thé hiểu công nghệ là tong hop các giải pháp cũng như công cu dé chuyên đổi các nguồn tài nguyên thiên nhiên và sức lao động của con người thành sản phẩm hàng hoá và dịch vụ phục vụ cho nhu cầu của xã hội. Chính công nghệ là yếu tổ quyết định mức độ hiệu quả trong việc sử dụng tài nguyên, làm nên sự thay đổi xã hội.
Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã chứng minh mối quan hệ biện chứng giữa công nghệ và phát triển bằng việc tăng cường áp dụng công nghệ, xã hội loài người đã từng bước chuyên dịch vị thế của mình từ thế giới tự nhiên sang xã hội. Công nghệ cũng chính là yếu tổ quyết định sự thịnh vượng hay suy vong của một quốc gia. 12 Trong xã hội hiện đại, vai trò của công nghệ ngày cảng tăng lên. Nó đã và đang trở thành hàng hoá được chuyền giao trên thị trường và được bảo hộ bằng pháp luật.
Những tiến bộ như vũ bão của KH&CN trong hai thập kỷ qua, đặc biệt là trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ Nano, tự động hoá đã làm đảo lộn tư duy và chiến lược của nhiều nước. Không ai còn có thé hoài nghi về vai trò của công nghệ trong phát triển kinh tế toàn cầu và của mỗi quốc gia. Trong những năm qua, Nhà nước có nhiều chủ trương, chính sách khuyến khích ứng dụng KH&CN vào sản xuất, nhất là sản xuất nông nghiệp. Song những cơ chế khuyến khích 20% kinh phí của Nhà nước và 80% kinh phí đối ứng của người dân theo kênh khuyến nông chưa thật sự đủ mạnh dé tác động việc mạnh dạn chuyên đổi cơ cau cây trồng, vật nuôi, ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ vao sản xuất để tạo ra sản phẩm hàng hóa có hàm lượng chất xám và giá trị kinh tế cao.
Nhất là vùng nông thôn và miền núi người dân còn nghèo, trình độ dân trí còn thấp, điều đó đã tạo ra rào cản rất lớn cho KH&CN thâm nhập sâu vào đời sống cộng đồng nơi đây. Chương trình nông thôn miền núi đã thật sự mở ra một cơ hội mới cả về vốn và công nghệ sản xuất cho người dân vùng nông thôn trong giai đoạn hiện nay. Giai đoạn Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế, các sản phẩm nông nghiệp đều phải sản xuất sạch, nông nghiệp hữu cơ và sản xuất nông nghiệp công nghệ cao.