Luận án tiến sĩ về thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học ở các trường đại học công lập Việt Nam

Luận án tiến sĩ phân tích thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học tại các trường đại học công lập Việt Nam, đề xuất giải pháp hiệu quả.

Chuyên ngành

Tài chính - Ngân hàng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2020

207
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về thương mại hóa kết quả nghiên cứu

Thương mại hóa kết quả nghiên cứu tại các trường đại học công lập Việt Nam đang trở thành một chủ đề quan trọng trong bối cảnh hiện nay. Thương mại hóa không chỉ giúp các trường đại học tăng cường nguồn thu mà còn tạo ra cơ hội hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp. Theo nghiên cứu của Aldridge & Audretsch (2011), việc chuyển giao công nghệthương mại hóa kết quả nghiên cứu có thể nâng cao chất lượng đào tạo và gắn kết lý thuyết với thực tiễn. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh các trường đại học đang phải đối mặt với áp lực tài chính ngày càng lớn. Việc đổi mới sáng tạohợp tác nghiên cứu giữa các trường đại học và doanh nghiệp sẽ tạo ra giá trị gia tăng cho cả hai bên.

1.1. Vai trò của thương mại hóa kết quả nghiên cứu

Vai trò của thương mại hóa kết quả nghiên cứu không thể phủ nhận trong việc phát triển kinh tế - xã hội. Các trường đại học không chỉ là nơi sản xuất tri thức mà còn là trung tâm chuyển giao công nghệ. Theo Etzkowitz (1998), các trường đại học cần phải tự chủ trong hoạt động nghiên cứu và thương mại hóa để đáp ứng nhu cầu của thị trường. Việc này không chỉ giúp các trường tăng cường nguồn lực tài chính mà còn tạo ra những sản phẩm nghiên cứu có giá trị thực tiễn. Hơn nữa, kinh tế tri thức đang ngày càng trở nên quan trọng, và các trường đại học cần phải thích ứng với xu hướng này để tồn tại và phát triển.

II. Thực trạng thương mại hóa kết quả nghiên cứu tại các trường đại học công lập

Thực trạng thương mại hóa kết quả nghiên cứu tại các trường đại học công lập Việt Nam cho thấy nhiều tiềm năng nhưng cũng không ít thách thức. Theo khảo sát của tác giả (2018), trong giai đoạn 2011-2016, đã có 12 trường đại học công lập khối kỹ thuật thực hiện 3.992 hợp đồng chuyển giao công nghệ với tổng giá trị lên tới 895 tỷ đồng. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều rào cản trong việc ứng dụng khoa học vào thực tiễn. Các yếu tố như chính sách giáo dục, đầu tư nghiên cứu, và hợp tác nghiên cứu cần được cải thiện để thúc đẩy quá trình này. Việc nâng cao chất lượng giáo dụctăng cường hợp tác giữa các trường đại học và doanh nghiệp là rất cần thiết.

2.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến thương mại hóa

Nhiều yếu tố ảnh hưởng đến quyết định thương mại hóa kết quả nghiên cứu của giảng viên, bao gồm vốn xã hội, động lực tài chính, và các rào cản thể chế. Theo Bercovitz & Feldman (2008), việc có các văn phòng chuyển giao công nghệ và sự hỗ trợ từ lãnh đạo có thể thúc đẩy quá trình này. Tuy nhiên, các rào cản như thiếu kinh phí và chính sách chưa đồng bộ vẫn là những thách thức lớn. Để giải quyết vấn đề này, cần có những chính sách rõ ràng và cụ thể nhằm khuyến khích giảng viên tham gia vào thương mại hóa kết quả nghiên cứu.

III. Khuyến nghị nhằm thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu

Để thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu tại các trường đại học công lập, cần có những khuyến nghị cụ thể. Đầu tiên, cần tăng cường hợp tác giữa các trường đại học và doanh nghiệp để tạo ra những sản phẩm nghiên cứu có giá trị. Thứ hai, cần cải thiện chính sách giáo dụcđầu tư nghiên cứu để tạo điều kiện thuận lợi cho giảng viên. Cuối cùng, việc nâng cao chất lượng giáo dụcđổi mới sáng tạo trong giảng dạy sẽ giúp các trường đại học phát triển bền vững. Theo Miller & Acs (2013), việc này không chỉ giúp các trường tăng cường nguồn thu mà còn góp phần vào sự phát triển chung của nền kinh tế.

3.1. Tạo động lực cho giảng viên

Tạo động lực cho giảng viên tham gia vào thương mại hóa kết quả nghiên cứu là rất quan trọng. Cần có các chính sách khuyến khích giảng viên tham gia vào các dự án nghiên cứu và chuyển giao công nghệ. Việc công nhận và khen thưởng những đóng góp của giảng viên trong lĩnh vực này sẽ tạo động lực cho họ. Hơn nữa, việc cung cấp các khóa đào tạo về kỹ năng thương mại hóa cũng sẽ giúp giảng viên nâng cao khả năng và tự tin hơn trong việc đưa kết quả nghiên cứu vào thực tiễn.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ THƯƠNG MẠI HÓA KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan nghiên cứu Thương mại hóa kết quả nghiên cứu của giảng viên/nhà khoa học của các trường ĐH là một chủ đề khá phổ biến được nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới cũng như ở Việt Nam quan tâm vì những lợi ích của nó mang lại là hết sức to lớn đối với giảng viên, các trường đại học, nhà nước và cho toàn xã hội. Đã có nhiều nghiên cứu và cách tiếp cận khác nhau về vấn đề này. Từ những vấn đề nghiên cứu đã được xác định, tác giả tiến hành tổng hợp các hướng nghiên cứu quan trọng liên quan đến thương mại hóa KQNC trước đây của các tác giả trong nước cũng như nước ngoài về vấn đề này như sau: 1.

Các nghiên cứu về thương mại hóa kết quả nghiên cứu Vấn đề thương mại hóa KQNC của giảng viên các trường đại học từ lâu đã thu hút được sự quan tâm của các nhà khoa học với quan điểm và cách tiếp cận khác nhau. Hai thập kỷ cuối của thế kỷ 20 chúng ta đã chứng kiến một sự phát triển trong việc tạo ra tri thức và đổi mới, với sự ra đời của các công ty sáng tạo tri thức, nền kinh tế tri thức (Nonaka & Takeuchi, 1995). Tuy nhiên, trong khoảng 15 năm đầu của thế kỷ 21, xu hướng chung được chuyển sang thương mại hóa các phát minh (Aldridge & Audretsch, 2011; Alshumaimri và cộng sự, 2012; Bercovitz & Feldman, 2008; Markman và cộng sự, 2008). Đây được xem là sự phát triển tất yếu trong chuỗi giá trị, từ “nghiên cứu” đến “phát triển” và “thương mại hóa”.

Thương mại hóa KQNC được coi là ví dụ điển hình thể hiện sự ảnh hưởng tích cực của hoạt động nghiên cứu đến đời sống thực tiễn do nó tạo ra sự chấp nhận của thị trường với các KQNC khoa học (Markman và cộng sự, 2008) hay nói cách khác là sự chuyển giao tri thức từ trường đại học, các viện nghiên cứu sang lĩnh vực kinh doanh nói chung hay xã hội nói riêng (Perkma và cộng sự, 2013), nó có thể được diễn ra ở bất kỳ giai đoạn nào trong quá trình nghiên cứu, có thể được diễn ra ngay từ khi có ý tưởng ban đầu, trong giai đoạn triển khai nghiên cứu hay ở giai đoạn cho kết quả cuối cùng (Norman và cộng sự, 1997). Thương mại hoá KQNC có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như mua bản quyền công nghệ (licensing) hay thành lập doanh nghiệp KHCN từ các tổ chức KHCN mẹ để thương mại hoá KQNC của chính tổ chức đó. Nhận thức được vai trò cũng như tầm quan trọng của thương mại hóa KQNC của giảng viên các luan an 10 trường đại học, rất nhiều quốc gia trên thế giới đã coi chính sách thúc đẩy phát triển thương mại hoá KQNC là một trong những chính sách trọng tâm cho phát triển kinh tế, điển hình là Hoa Kỳ, ngay từ những năm 80 của thế kỷ trước, để thúc đẩy phát triển kinh tế, Chính phủ Hoa Kỳ đã ban hành rất nhiều chính sách, đạo luật nhằm phát triển tiềm lực khoa học đặc biệt là các chính sách khuyến khích, ưu đãi tạo điều kiện thuận lợi về môi trường pháp lý, cơ chế đầu tư tài chính cho hoạt động NCKH nhằm mục đích cuối cùng là đưa được KQNC từ các trường ĐH, viện nghiên cứu, các phòng thí nghiệm của liên bang vào các doanh nghiệp. Điển hình là Đạo Luật Bayh - Dole (Bayh - Dole Act, 1980), ngoài ra đạo luật này cũng nhằm mục tiêu là thúc đẩy các doanh nghiệp đổi mới công nghệ và đẩy mạnh hoạt động chuyển giao KQNC từ trường đại học vào doanh nghiệp, một trong những chính sách mang tính đột phá của đạo luật này là cho phép các trường ĐH, viện nghiên cứu, các cơ sở nghiên cứu được toàn quyền sở hữu tài sản trí tuệ (TSTT) đối với các KQNC từ các dự án do chính quyền liên bang tài trợ ngân sách và các cơ sở này được quyền cấp phép (Li -xăng) cho các doanh nghiệp, tạo mọi điều kiện thuận lợi trong hợp tác liên kết giữa các trường ĐH, viện nghiên cứu với doanh nghiệp.

Ở các trường ĐH, để thúc đẩy thương mại hóa KQNC các trường ĐH đã thành lập một cơ chế đặc biệt, hình thành các đơn vị chuyển giao công nghệ, các trung tâm phát triển sáng kiến ứng dụng, cũng như tạo ra các hệ thống quy định và quy trình để hỗ trợ thúc đẩy nhanh cho việc thương mại hóa KQNC (Farsi và cộng sự, 2013). Theo Pelwa (2005), dưới góc độ tiếp cận nghiên cứu về lợi ích của thương hóa KQNC, tác giả đã thực hiện nghiên cứu khám phá các nhân tố gây cản trở đến thương mại hóa KQNC ở góc độ xung đột lợi ích giữa trường đại học và doanh nghiệp để trả lời hai câu hỏi nghiên cứu: Lợi ích nào thúc đẩy các trường ĐH và tổ chức nghiên cứu tham gia vào thương mại hóa ?; Khi họ có lợi ích khác nhau thì mối quan hệ giữa trường đại học và tổ chức sẽ như thế nào khi tham gia vào thương mại hóa? Cho đến nay, về vấn đề này đã có rất nhiều nghiên cứu của các học giả trên thế giới đều chỉ ra và khẳng định vai trò cũng như tầm quan trọng của thương mại hóa KQNC của giảng viên các trường ĐH. Do đó ở một số quốc gia, chính sách xúc tiến thương mại hóa KQNC của giảng viên các trường ĐH là rất quan trọng để tăng lợi nhuận tiếp tục đầu tư cho nghiên cứu (Markman và cộng sự, 2008). Ở một số quốc gia như Mỹ và châu Âu, Chính phủ và công chúng đã gây áp lực lớn cho các trường đại học, giảng viên/nhà khoa học để thúc đẩy việc thương mại hóa những phát minh của họ (Markman và cộng sự, 2008).

Ở cấp độ tổ chức, doanh thu từ thương mại hóa là một nguồn thu để bù đắp nguồn kinh phí do NSNN cắt giảm cho các trường ĐHCL ở luan an 11 những nước này (Miller & Acs, 2013). Bên cạnh đó, thương mại hóa KQNC còn tạo ra cơ hội cho các nhà khoa học và sinh viên có điều kiện để ứng dụng lý thuyết với thực tế và tạo thuận lợi cho việc xây dựng và áp dụng các chương trình GDĐH vào thực tiễn (Aldridge & Audretsch, 2011). Đối với giảng viên, tầm quan trọng của thương mại hóa KQNC không phải là rõ ràng vì công việc truyền thống của họ là giảng dạy, nghiên cứu để khám phá tri thức mới hơn là việc khai thác tri thức. Trong khi một số giảng viên/nhà khoa học cho rằng khi trở thành một doanh nhân thực sự sẽ làm ảnh hưởng đến nhiệm vụ chính của họ là giảng dạy và nghiên cứu ở các trường ĐH (Zahra & Garvis, 2000).

Một số học giả khác lại cho rằng việc thương mại hóa sẽ góp phần vào sự phát triển nghề nghiệp của giảng viên/nhà khoa học. Do vậy mà vẫn có những quan điểm khác nhau về cách để khuyến khích giảng viên/nhà khoa học tích cực tham gia nhiều hơn vào thương mại hóa KQNC (Lam, 2011; Miller & Acs, 2013). Hoàng Văn Hoa (2017), khi nghiên cứu về thương mại hóa kết quả hoạt động KHCN tại các trường ĐHCL thuộc Bộ GDĐT. Tác giả đã chỉ ra những điều kiện, sự cần thiết của thương mại hóa KQNC, tổng kết kinh nghiệm của một số nước trên thế giới như Mỹ, Châu Âu, Trung Quốc và rút ra bài học cho Việt Nam.

Tác giả đã phân tích đánh giá một cách tổng quát thực trạng về đội ngũ nguồn nhân lực nghiên cứu, cơ sở vật chất, sản phẩm KHCN và thương mại hóa kết quả hoạt động KHCN. Qua đó tác giả đã chỉ ra những kết quả đạt được, thuận lợi, khó khăn, hạn chế của hoạt động này. Tuy nhiên, tác giả chưa chỉ ra được những yếu tố ở cấp độ cá nhân của giảng viên/nhà khoa học như (đặc điểm nhà khoa học, vốn con người, vốn xã hội, động lực) và những rào cản ảnh hưởng đến quyết định thương mại hóa KQNC của họ, nghiên cứu mới dừng lại ở việc phân tích đánh gia thực trạng về cơ chế chính sách về thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Tác giả chưa tiến hành khảo sát thực tế tại các trường ĐHCL khối kỹ thuật có tiềm lực mạnh về nghiên cứu ứng dụng triển khai như (Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, Trường Đại học Bách khoa TP.HCM, Trường Đại học Giao thông vận tải, Học Viện Nông nghiệp.) dữ liệu thứ cấp được thu thập chủ yếu từ các báo cáo tổng kết về KHCN của các trường đại học và báo cáo của Bộ GDĐT.

Kết quả nghiên cứu chưa đủ cơ sở khoa học để đưa ra những đề xuất và kiến nghị cho các trường đại học và những nhà quản lý trong định hướng hoạt động và hoạch định chính sách. Bởi vậy mà kết quả đề tài cũng chưa chỉ ra được những nhân tố nào ảnh hưởng đến thương mại hóa KQNC, những hạn chế và nguyên của những hạn chế của những nhân tố đó để đưa ra những giải pháp và kiến nghị. Các giải pháp và kiến nghị mang tính vĩ mô chưa gắn với điều kiện thực tiễn của đơn vị nghiên cứu cụ thể nào đặc biệt là cho các trường ĐHCL khối kỹ thuật ở Việt Nam. Các nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến thương mại hóa kết quả nghiên cứu của giảng viên các trường đại học Về chủ đề này, các nhà khoa học ở các nước phát triển như Mỹ, Anh, Nhật Bản, Pháp, Singapo, Hàn Quốc.

đã có rất nhiều công trình nghiên cứu được công bố ở các khía cạnh khác nhau liên quan đến thương mại hóa KQNC. Nhưng nhìn chung các nghiên cứu của các học giả đều có tính kế thừa và đã xác định được tập hợp nhóm các nhân tố chính ảnh hưởng đến quyết định thương mại hóa KQNC của giảng viên/nhà khoa học ở các trường đại học bao gồm: 1. Các nghiên cứu về các yếu tố là vốn xã hội và đặc điểm giảng viên Vốn xã hội (Social capital) của giảng viên/nhà khoa học là các mối quan hệ với các đối tác (Audretsch & Aldridge, 2009). Trong đó mạng quan hệ xã hội (Social network) của giảng viên/nhà khoa học là một yếu tố rất quan trọng tạo nên thành công trong việc tạo ra một liên doanh mới (Lê & Nguyễn, 2009; Nguyễn và cộng sự, 2006).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học ở các trường đại học công lập Việt Nam" của tác giả Nguyễn Bá Nhẫm, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Đàm Văn Huệ và TS.Bạch Ngọc Thắng, được thực hiện tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân vào năm 2020. Bài luận án này tập trung vào việc phân tích và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học trong bối cảnh các trường đại học công lập tại Việt Nam. Nội dung của luận án không chỉ giúp các nhà quản lý giáo dục hiểu rõ hơn về tầm quan trọng của việc thương mại hóa nghiên cứu mà còn cung cấp những kiến thức quý báu cho các nhà nghiên cứu và giảng viên trong việc áp dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn.

Để mở rộng thêm kiến thức về quản lý giáo dục và sự hài lòng của sinh viên, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như "Đánh Giá Sự Hài Lòng Của Sinh Viên Về Chất Lượng Dịch Vụ Tại Trường Đại Học Ngoại Thương""Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Quản Trị Tri Thức Tại Trường Đại Học Công Lập Hà Nội". Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn sâu sắc hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục và sự hài lòng của sinh viên trong môi trường học tập hiện nay.