CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 2. CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ KỸ NĂNG LÀM VIỆC NHÓM TRONG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN CHƯƠNG 3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 4.
THỰC TRẠNG KNLVN TRONG HỌC TẬP CỦA SV TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP. HCM CHƯƠNG 5. ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO KNLVN TRONG HỌC TẬP CỦA SV TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP. HCM 5 CHƯƠNG 2.
CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ KỸ NĂNG LÀM VIỆC NHÓM TRONG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN 2. Tổng quan tình hình nghiên cứu về kỹ năng làm việc nhóm 2. Nghiên cứu trên thế giới Có rất nhiều công trình nghiên cứu khác nhau về vấn đề kỹ năng dưới các góc độ khác nhau. Tựu trung lại, có thể kể đến các công trình nghiên cứu nổi bật như: Đối với những nghiên cứu cơ bản về kỹ năng, kỹ xảo, mối quan hệ giữa kỹ năng và kỹ xảo, kỹ năng và năng lực, điều kiện hình thành kỹ năng, kỹ xảo trong hoạt động nói chung, có các công trình của các tác giả B.
Chẳng hạn, khi nghiên cứu về kỹ năng và kỹ xảo B.Kabanova… đã phân tích nội hàm của khái niệm kỹ năng, kỹ xảo và con đường hình thành chúng, nhấn mạnh điều kiện hình thành kỹ năng là những tri thức, kinh nghiệm của chủ thể hoạt động. Theo họ, muốn hình thành kỹ năng trong một lĩnh vực hoạt động nào đó thì trước hết phải cung cấp kiến thức về hành động đó cho người học (Freeman, 2012).Levitov thì cho rằng kỹ năng có hai loại: Kỹ năng bậc thấp và kỹ năng bậc cao. Các tác giả đi sâu nghiên cứu kỹ năng bậc cao của những hành động phức tạp, trong những điều kiện hành động không cố định. Theo họ, kỹ xảo đã có là thành phần của kỹ năng (Hrynchak & Batty, 2012).
Đối với những nghiên cứu ứng dụng kỹ năng trong một số lĩnh vực cụ thể như: kỹ năng trong lao động công nghiệp, kỹ năng sư phạm, kỹ năng trong hoạt động tổ chức, kỹ năng sống, có những hướng nghiên cứu tiểu biểu gồm: Những công trình nghiên cứu về kỹ năng lao động công nghiệp, về kỹ năng trong những mối quan hệ với máy móc, công cụ lao động, vấn đề luyện tập gian khổ của người lao động trong quá trình hình thành kỹ năng, kỹ xảo. Đại diện là các tác giả V. Trong công trình nghiên cứu của mình V.Tsebưseva đã trình bày rõ về kỹ năng, kỹ xảo, đưa ra các phương pháp hình thành kỹ năng. Theo bà, kỹ năng với tư cách là khả năng (trình độ được chuẩn bị) thực hiện một hành động nào đó dựa trên cơ sở những tri thức và kỹ xảo được hoàn thiện dần trong quá trình hoạt động.Tsebưseva đã nêu lên các điều kiện và các bước hình thành kỹ năng.
Bà đặc biệt nhấn mạnh vai trò tích cực của người học trong quá trình hình thành kỹ năng.Tsebưseva đã chỉ ra “quá trình nhận thức trong học tập càng tích cực bao nhiêu thì kỹ năng, kỹ xảo càng hình thành nhanh chóng và hoàn thiện hơn bấy nhiêu”. Từ đó, bà quan niệm, trong quá trình huấn luyện, nhà giáo dục rút dần vai trò của mình để người học tự nắm lấy thì kỹ năng được hình thành nhanh chóng, ổn định hơn (được trích dẫn bởi Nguyễn Thị Thúy Hạnh, 2009). Những nghiên cứu ứng dụng kỹ năng trong công tác hoạt động tổ chức. Các tác giả đã nghiên cứu hệ thống kỹ năng cần thiết giúp cho người làm công tác hoạt động tổ chức đạt hiệu quả cao.
Đại diện là các tác giả: P.Kegensev đã phân tích và đề xuất những yếu tố cơ bản của công tác tổ chức như mục đích các kiểu tổ chức, các phương pháp tổ chức, điều kiện tổ chức, các phương tiện, đặc điểm tâm lý quần chúng được tổ chức, những yêu cầu về phẩm chất của người làm công tác tổ chức. Tất cả những yếu tố trên đều cần cho công tác tổ chức. Nhưng để vận dụng vào tổ chức một hoạt động cụ thể người làm công tác tổ chức phải biết nắm vững tri thức về lĩnh vực hoạt động cụ thể đó và phải có sự mềm dẻo, sáng tạo trong quá trình tổ chức mới đạt được.kinv khi nghiên cứu về năng lực tổ chức coi kỹ năng tổ chức là yếu tố quan trọng của năng lực tổ chức. Theo nhóm tác giả này, điều kiện hình thành kỹ năng tổ chức thông qua học tập và rèn luyện thường xuyên của người học (được trích dẫn bởi Koles & cộng sự, 2010).
Những nghiên cứu ứng dụng kỹ năng trong hoạt động sư phạm nói chung, kỹ năng của người GV và kỹ năng của SV nói riêng. Dựa trên cơ sở nghiên cứu đối tượng của hoạt động sư phạm là con người, là nhân cách của SV, các tác giả một mặt nghiên cứu hệ thống kỹ năng trong hoạt động dạy học của GV, một mặt nghiên cứu các kỹ năng cần thiết trong quá hình hình thành nhân cách của SV. Bên cạnh đó, các tác giả cũng làm rõ sự khác biệt giữa hệ thống kỹ năng trong hoạt động sư phạm và hệ thống kỹ năng trong hoạt động lao động và các hoạt động khác. Đại diện tiêu biểu là G.Cuzmina… Các nghiên cứu ứng dụng kỹ năng trong lĩnh vực kỹ năng sống của nhà khoa học hành vi Gilbert Botvin, các chương trình giáo dục kỹ năng sống của các tổ chức quốc tế như UNESCO, UNICEF, WHO.
Trong các nghiên cứu này các tác giả hướng tới đưa ra chương trình giáo dục các kỹ năng sống cụ thể với các nhóm đối tượng khác nhau nhằm 7 trang bị cho họ những kỹ năng sống cơ bản, giúp ứng phó với một số vấn đề cụ thể trong cuộc sống như bảo vệ sức khoẻ, bảo vệ môi trường, phòng chống HIV/AIDS,. Như vậy, xuất phát từ đối tượng của các lĩnh vực hoạt động khác nhau nên có các hướng nghiên cứu kỹ năng khác nhau. Tuy nhiên, các quan điểm của các tác giả không trái ngược với nhau. Các tác giả đều thống nhất ở quan điểm: Để hình thành kỹ năng thì cần có tri thức và sự rèn luyện tích cực của chủ thể hoạt động.
Kỹ năng và kỹ năng hoạt động là vấn đề được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu từ rất sớm. Người đầu tiên có thể kể đến là Arixtot, trong Bàn về tâm hồn đã đặc biệt quan tâm đến phẩm hạnh của con người. Theo ông, nội dung của phẩm hạnh là: Biết định hướng, biết làm việc, biết tìm tòi, có nghĩa là con người có phẩm hạnh là con người có kỹ năng làm việc. Michael (2012) đã phân tích các yếu tố của làm việc nhóm hiệu quả như tìm hiểu các rào cản đối với làm việc nhóm, xây dựng nhóm làm việc, các bước phát triển nhóm… Đặc biệt trong tác phẩm này, tác giả có trình bày một số kỹ năng cần thiết để làm việc nhóm.
Cụ thể là, tác giả cho rằng khi tạo ra nhóm nên nghĩ xa hơn những khía cạnh không thay đổi của con người như cá tính của họ, cái cần là các mục tiêu, động lực, kiến thức và kỹ năng của các thành viên trong nhóm. Những kỹ năng này bao gồm sự ưa thích của cá nhân khi làm việc nhóm, chủ nghĩa cá nhân hay cách tiếp cận tập thể trong khi làm việc và tương tác với người khác trong nhóm, những kỹ năng xã hội cơ bản mà cá nhân cần có khi làm việc nhóm như nghe, nói và hợp tác. Ngoài ra họ cần phải có những kỹ năng riêng khi làm việc nhóm như sự phối hợp, hợp tác hay tập trung vào nhóm hay những kỹ năng nhận thức liên cá nhân. Archer & Davison (2008) đã tiến hành một nghiên cứu tại Anh kiểm tra các kỹ năng việc làm quan trọng nhất theo tổ chức quốc tế.
Nó cho thấy những kỹ năng quan trọng nhất của người sử dụng lao động tìm kiếm những kỹ năng giao tiếp (82%), KNLVN (91%), khả năng trí tuệ (79%), phân tích và ra quyết định (76%). Nghiên cứu “Thái độ của SV Y khoa về làm việc nhóm trong một chương trình giáo dục tiền lâm sàng = Medical Students’ Attitudes about Team-Based Learning in a Pre- Clinical Curriculum” của nhóm tác giả Dean, Dan & Nicole (2009) so sánh thái độ của 8 SV y khoa về quá trình học tập theo nhóm thay đổi giữa năm đầu tiên và năm thứ hai của trường y. Kết quả cho thấy sự thay đổi đáng kể về thái độ của SV đã được ghi nhận như sau: Làm việc trong một nhóm làm rõ họ là ai, làm việc với nhóm đã giúp họ phát triển các kỹ năng làm việc với người khác và phát triển kỹ năng lãnh đạo hợp tác và làm việc với một nhóm đã giúp họ phát triển hơn nữa sự tôn trọng ý kiến của người khác. Công trình nghiên cứu “Impact of adapted team-based learning methods on student self-assessment of professionalism, teamwork, and skills in a self-care course” của nhóm tác giả Lindsey Elmore, Jessica W Skelley & Thomas W Woolley (2014) đã đánh giá tác động của việc áp dụng phương pháp học tập theo nhóm (Team-based learning - TBL) đối với sự chuyên nghiệp, KNLVN, và nhận thức về học tập của SV.
Kết quả cho thấy rằng, làm việc nhóm giúp các thành viên tích lũy được kinh nghiệm quý báu, được tôn trọng, từng cá nhân được cải thiện chính mình, nâng cao trình độ, phát triển kỹ năng hợp tác, kỹ năng lãnh đạo hơn, thúc đẩy họ làm việc chăm chỉ hơn, trở thành người giải quyết một vấn đề hiệu quả. Nhìn chung tất cả các công trình trên đều khẳng định tầm quan trọng của KNLVN đối với SV kể cả trong học tập lẫn trong cuộc sống. KNLVN không chỉ giúp SV gia tăng cơ hội nghề nghiệp, giúp họ thành công hơn trong sự nghiệp mà còn hoàn thiện nhân cách của mỗi cá nhân. Nghiên cứu ở Việt Nam Các công trình về KNLVN tại Việt Nam vẫn còn chưa phong phú.
Tuy nhiên, lĩnh vực này cũng đã nhận được sự quan tâm và đã có một số đề tài nghiên cứu, tìm hiểu. Liên quan đến vấn đề này, tác giả Lê Ngọc Huyền (2010) trong luận văn thạc sỹ tâm lý học “Kỹ năng hoạt động nhóm trong học tập của SV trường Đại học Sài Gòn” đã nghiên cứu thực trạng nhận thức và mức độ biểu hiện của năm kỹ năng: Kỹ năng lắng nghe, kỹ năng thuyết trình, kỹ năng thảo luận, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng hợp tác, chia sẻ. Kết quả nghiên cứu dựa trên việc khảo sát ngẫu nhiên 287 SV của trường cho thấy, đối với các kỹ năng bộ phận của KNLVN trong học tập, SV có biểu hiện ở mức cao tuy còn một vài hạn chế nhất định. Một nghiên cứu khác là “Kỹ năng làm việc nhóm của SV khoa tiếng Pháp, Trường ĐH Ngoại ngữ, ĐH Đà Nẵng” của Nguyễn Đăng Khoa (2008).