phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, danh mục các công trình khoa học đã đƣợc công bố có liên quan đến luận án, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án đƣợc kết cấu gồm 4 chƣơng: - Chƣơng 1: Tổng quan nghiên cứu về kĩ năng giao tiếp trong hoạt động học tập của sinh viên - Chƣơng 2: Cơ sở lý luận nghiên cứu về kĩ năng giao tiếp trong hoạt động học tập của sinh viên Khmer - Chƣơng 3: Tổ chức và phƣơng pháp nghiên cứu - Chƣơng 4: Kết quả nghiên cứu thực tiễn về kĩ năng giao tiếp trong hoạt động học tập của sinh viên Khmer. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ KĨ NĂNG GIAO TIẾP TRONG HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN Có thể khái quát các công trình nghiên cứu của tác giả trong nƣớc và nƣớc ngoài về kĩ năng giao tiếp trong hoạt động học tập của sinh viên theo các lĩnh vực: (1.1) Những khó khăn về giao tiếp trong hoạt động học tập ở sinh viên; (1.2) Các kĩ năng giao tiếp thành phần trong hoạt động học tập của sinh viên; (1.3) Những yếu tố ảnh hƣởng đến KNGT trong HĐHT của sinh viên; (1.4) Sự ảnh hƣởng của kĩ năng giao tiếp tới kết quả học tập của sinh viên; và (1.5) Biện pháp nâng cao kĩ năng giao tiếp trong hoạt động học tập cho sinh viên. Nghiên cứu những khó khăn về giao tiếp trong hoạt động học tập ở sinh viên Từ những năm 80 của thế kỷ XX, nghiên cứu của Rubin (1982) đã chỉ ra những khó khăn của giao tiếp trong hoạt động học tập ở sinh viên đại học nhƣ nhiều sinh viên chƣa nghe giảng tốt nên gặp khó khăn trong xác định những ý chính của bài học; một số không hiểu đầy đủ các hƣớng dẫn của ngƣời dạy cũng nhƣ mục tiêu mà môn học hƣớng tới; một số gặp khó khăn trong trình bày ý kiến, tóm lƣợc ý kiến, hay phát âm. Trong quá trình học tập ở lớp, nhiều sinh viên còn không biết đặt câu hỏi để lấy thông tin hoặc gặp khó khăn trong diễn đạt câu trả lời, ngay cả khi họ biết câu trả lời.
Trong nghiên cứu gần đây của Iksan và cộng sự (2012) về kĩ năng giao tiếp ở 533 sinh viên ở trƣờng Đại học ở Malaysia, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy vẫn còn 20,0% - 27,3% sinh viên tự đánh giá còn yếu ở kĩ năng lắng nghe và trình bày ý kiến. Ganguly (2017) cũng có kết luận là sinh viên đại học còn hạn chế về kĩ năng giao tiếp thể hiện trong việc thiếu sự tự tin để diễn đạt các thông tin, kiến thức một cách hiệu quả. Trong ngữ cảnh đại học ở Việt Nam, nhiều nhà nghiên cứu cũng chỉ ra một số sinh viên còn diễn đạt không rõ ràng chính xác, hoặc không dám trình bày những suy nghĩ, ý đồ của bản thân trong giao tiếp; một số khác lại luôn có cảm giác hồi hộp, lo lắng khi giao tiếp với ngƣời khác (Đậu Minh Long, 2007; Nguyễn Mỹ Lộc & Đinh Thị Kim Thoa, 2009). Khi nghiên cứu về kĩ năng giao tiếp của sinh viên 16 trƣờng đại học Hà Tĩnh, Nguyễn Thị Cẩm và Nguyễn Thị Ánh Tuyết (2016) chỉ ra còn 50,7% sinh viên gặp những khó khăn trong diễn đạt, biểu hiện những suy nghĩ, quan điểm và tình cảm của bản thân.
Nguyên nhân của những hạn chế này có thể là do sinh viên thiếu tự tin, do không tập trung trong giao tiếp, một số sinh viên do bị chi phối bởi cảm xúc cá nhân nhƣ lo sợ nói sai, sợ bị đánh giá, một số khác nôn nóng trong bày tỏ ý kiến, hay lời nói không theo kịp suy nghĩ, không hiểu hết vấn đề, do vội vã nên chƣa nghe hết ý của ngƣời đối thoại hoặc chƣa nắm đƣợc cách nhận định chính xác về ngƣời đối thoại (Nguyễn Thị Cẩm & Nguyễn Thị Ánh Tuyết, 2016). Ngoài những hạn chế trong kĩ năng lắng nghe và kĩ năng trình bày ý kiến, Edwards (2012) còn chỉ ra, sinh viên đại học ít hoặc hầu nhƣ không đầu tƣ vào học tập nhóm do đó sinh viên thƣờng thiếu những kĩ năng cơ bản trong những tình huống cần phối hợp, hợp tác với bạn cùng lớp để giải quyết các nhiệm vụ giáo viên yêu cầu. Nguyễn Thị Lan Anh (2015) cũng chỉ ra trong làm việc nhóm, một số sinh viên biết thiết lập và duy trì quan hệ với giảng viên và các bạn trong lớp, nhƣng còn yếu trong khả năng kiềm chế cảm xúc bản thân trong khi trao đổi, đƣa ra quan điểm và thống nhất ý kiến với các bạn trong nhóm. Nguyễn Thị Diễm My (2017) nghiên cứu về kĩ năng hợp tác trong học tập đƣợc biểu hiện trong mối quan hệ với thầy cô và với các bạn trong lớp ở trƣờng đại học sƣ phạm thành phố Hồ Chí Minh cũng có chỉ ra sinh viên còn hạn chế ở kĩ năng truyền thông thể hiện khi trình bày ý kiến, khi thắc mắc về bài học với giáo viên và kĩ năng quản lý cảm xúc khi tƣơng tác với các bạn cùng nhóm.
Nhƣ vậy, trong kĩ năng hợp tác trong học tập nhóm, khả năng truyền tải đƣợc các nội dung học tập từ trong đầu mỗi cá nhân cho những ngƣời khác trong nhóm hiểu, sự phối hợp và khả năng kiểm soát cảm xúc khi tƣơng tác với các thành viên khác nhau trong nhóm đóng vai trò quan trọng trong việc đạt đƣợc các mục tiêu học tập. Tuy nhiên, cả hai nghiên cứu này đều chỉ ra sinh viên đại học còn hạn chế. 17 Đối v i nhóm SV thiểu số2 trong môi trƣờng đại học, những khó khăn trong giao tiếp cũng đƣợc biểu hiện rõ nét hơn. Powell và Avila (1986) đã thực hiện nghiên cứu về KNGT của 4 nhóm sinh viên dân tộc đang học ở trƣờng đại học phía nam California, Hoa Kỳ.
Trong đó sinh viên châu Á (Asian) chiếm 25%, sinh viên mỹ gốc Tây Ban Nha (Hispanic) chiếm 26%, sinh viên da đen (Black) chiếm 12% và SV da trắng (White) chiếm 33%. Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự khác nhau có ý nghĩa về KNGT giữa các nhóm dân tộc (p<0,05). Nhóm sinh viên da trắng (nhóm chiếm đa số ở trƣờng đại học, Hoa Kỳ) đạt kết quả về KNGT ở các biểu hiện nhƣ phát âm, sự rõ ràng, thể hiện quan điểm,… cao hơn 3 nhóm còn lại. Nhóm sinh viên da đen (nhóm thiểu số) có điểm về KNGT thấp nhất trong toàn nhóm khách thể.
Kết luận này cũng đƣợc tìm thấy trong nghiên cứu của Martín-Pastor, González-Gil, Robaina và Castro (2013), các tác giả cho rằng những sinh viên thuộc về nhóm nhập cƣ và những sinh viên xuất thân trong những hoàn cảnh bất lợi về văn hóa hoặc những nhóm sinh viên dân tộc thiểu số yếu về từ vựng có vấn đề trong việc xác định ý nghĩa của các cụm từ thông dụng trong văn bản… và các KNGT khác trong HĐHT. Có thể thấy rằng, khó khăn nổi trội trong giao tiếp ở nhóm sinh viên trong những nghiên cứu này thể hiện ở mặt ngôn ngữ. Sự chƣa thành thạo về mặt ngôn ngữ chính thống dùng trong môi trƣờng học thuật dẫn đến những bất cập trong việc hiểu và diễn đạt các nội dung giao tiếp trong các hoạt động học tập. Trong một nghiên cứu về nhóm sinh viên Trung Quốc theo học cùng với các sinh viên thuộc các nền văn hóa khác ở trƣờng đại học ở New Zealand, Holmes (2005) chỉ ra sinh viên Trung Quốc có một số hạn chế trong giao tiếp trên lớp nhƣ không thoải mái với việc diễn đạt ý kiến của mình, ngại hỏi và trả lời câu hỏi của ngƣời khác.
Kết quả nghiên cứu cũng tiết lộ rằng nhiều sinh viên có những ý kiến về nội dung học tập, tuy nhiên, đa số những sinh viên này lại chọn cách im lặng giữ 2 Sinh viên thiểu số theo nghĩa là sinh viên thuộc dân tộc khác, chiếm tỷ lệ ít hơn so với sinh viên bản địa trong môi trƣờng đại học. 18 ý kiến đó trong đầu thay vì chia sẻ. Trong học tập nhóm cùng với những sinh viên nhóm đa số, sinh viên trung Quốc cũng gặp khó khăn trong chia sẻ, tiếp nhận, phối hợp và hợp tác để đạt đƣợc mục tiêu nhóm. Kết quả tƣơng tự cũng đƣợc tìm thấy trong nghiên cứu của Kim (2006).
Nghiên cứu đƣợc thực hiện trên 289 sinh viên đến từ các nƣớc Đông Á đang học ở các trƣờng đại học ở Hoa Kỳ. Đặc điểm giao tiếp điển hình của nhóm sinh viên này là ít nói và trầm tính trong lớp học. Kết quả nghiên cứu chỉ ra trong HĐHT trên lớp, nhóm sinh viên này gặp phải một số khó khăn khi tham gia vào thảo luận chung trong ngữ cảnh toàn lớp, khi đặt câu hỏi trong quá trình học tập và cả khi tƣơng tác với các thành viên khác trong các buổi thảo luận nhóm. Trong nghiên cứu này, chúng tôi thấy không có sự khác biệt về mức độ khó khăn trong giao tiếp của sinh viên giữa các ngành học, học lực, giới tính hay đến từ những nƣớc khác nhau.
Điều này cho thấy xu hƣớng tập trung vào nghe, tiếp nhận nội dung học tập một chiều và im lặng là nét giao tiếp đặc trƣng mang tính điển hình trong HĐHT trên lớp ở những nhóm sinh viên ít ngƣời học chung với sinh viên nhóm đa số. Trong nghiên cứu khác, Fernandez, Wang, Braveman, Finkas và Hauer (2007) đã thực hiện một nghiên cứu trên 135 sinh viên đang học ngành Y ở Hoa Kì trong đó 33% sinh viên châu Á, 3% sinh viên da đen, 8% sinh viên Latin và 56% sinh viên da trắng, trong số những sinh viên này, có 43% sinh viên có ngôn ngữ mẹ đẻ khác với tiếng Anh. Kết quả nghiên cứu chỉ ra những sinh viên châu Á và sinh viên da đen (nhóm chiếm thiểu số) có điểm trung bình về KNGT thấp hơn một cách có ý nghĩa so với sinh viên da trắng (nhóm chiếm đa số). Những sinh viên có tiếng mẹ đẻ là tiếng Anh có KNGT cao hơn những sinh viên có tiếng mẹ đẻ là ngôn ngữ khác.
Kim (2006) khi nghiên cứu trên nhóm sinh viên các nƣớc Đông Á trong môi trƣờng học tập đại học ở Hoa Kì cũng chỉ ra những sinh viên thành thạo về ngôn ngữ tiếng Anh dùng trong học tập sẽ có ít khó khăn hơn trong giao tiếp và mức độ sẵn sàng tham gia ý kiến vào các hoạt động học thuật trong lớp nhiều hơn so với những sinh viên không thạo về mặt ngôn ngữ.