Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ RÈN LUYỆN KĨ NĂNG MỀM THÔNG QUA DẠY HỌC MÔN LINH KIỆN ĐIỆN TỬ CHO HỌC SINH SINH VIÊN TRƯỜNG NGHỀ 1. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới Song hành với thuật ngữ “Kĩ năng sống”, “Kĩ năng mềm” được thế giới quan tâm từ những năm 1980 cho đến nay. KNM bắt đầu được đề cập đến không phải từ cơ quan giáo dục mà là các cơ quan chăm sóc nguồn nhân lực Cộng đồng chung Châu Âu (EU) của Canada, rồi lần lượt các nước: Mỹ, Anh, Pháp, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore… và trở thành trào lưu thế giới.
Đến nay, KNM đã khẳng định được tầm quan trọng trong sự phát triển của xã hội hiện đại khi Ngân hàng Thế giới gọi thế kỉ 21 là kỷ nguyên của kinh tế dựa vào KN - Skills Based Economy. Các nhà khoa học trên thế giới cho rằng: để thành đạt trong cuộc sống thì KNM (trí tuệ cảm xúc – EQ) chiếm 75%, kỹ năng cứng (trí tuệ logic – IQ) chỉ chiếm 25% [58]. Chính vì vậy, các nước rất chú trọng trang bị KNM, nền giáo dục của mỗi nước có yêu cầu KN khác nhau do có những mục tiêu khác nhau và đã đưa ra các KN cần có cho nguồn nhân lực thế kỉ 21. Tại Mỹ, Bộ Lao động Mỹ (The U.
Department of Labor) cùng Hiệp hội Đào tạo và Phát triển Mỹ (The American Society of Training and Development) đưa ra 13 KN cơ bản cần thiết để thành công trong công việc. [50] Tại Úc, đã xuất bản cuốn “KN hành nghề cho tương lai”. Cuốn sách cho thấy các KN và kiến thức mà người sử dụng lao động yêu cầu bắt buộc phải có. KN hành nghề (employability skills) là các KN cần thiết không chỉ để có được việc làm mà còn để tiến bộ trong tổ chức thông qua việc phát huy tiềm năng cá nhân và đóng 5 Luan van góp vào định hướng chiến lược của tổ chức.
Các KN hành nghề bao gồm có 8 KN. [46] Chính phủ Canada cũng đã có nghiên cứu và đưa ra danh sách các KN hành nghề cho thế kỷ 21 (Employability Skills 2000+) bao gồm 6 KN. [45] KNM trong giáo dục bắt đầu từ những năm 1990 ở Anh. Chính phủ Anh cũng có cơ quan chuyên trách về phát triển KN cho người lao động.
Cơ quan chứng nhận chương trình và tiêu chuẩn (Qualification and Curriculum Authority) cũng đưa ra danh sách các KN quan trọng gồm 6 KN. [56] KNM được nghiên cứu gắn với KNS thể hiện qua các hoạt động dự án, hội thảo. Tại diễn đàn thế giới về giáo dục cho mọi người tại Darka (Senegal, 2000) đã xác định rõ KNS là một trong 6 mục tiêu hàng đầu của mỗi quốc gia “Mỗi quốc gia phải đảm bảo cho người học được tiếp cận chương trình giáo dục KNS”. Như vậy, KNS trở thành quyền của người học và chất lượng giáo dục phải được thể hiện cả trong KNS của người học.
Kechagias cùng các cộng sự [39] đã đưa ra tài liệu học tập KNM và thí điểm tại trường cao đẳng Angus, Scotland, kế đến là Hy Lạp, Thụy Điển, Romania và Hà Lan. Mục đích giúp SV bất mãn với giáo dục có khả năng tự đánh giá, xác định và cải thiện KNM trong quá trình học tập tạo điều kiện hòa nhập xã hội và nâng cao cơ hội việc làm. Tài liệu như hướng dẫn, giảng dạy KNM cho các nhóm SV thiệt thòi. Và làm sáng tỏ lí luận về KNM như: khái niệm KNM, các mục tiêu KNM mà MASS cần hướng đến, và các phương pháp sử dụng đánh giá KNM.
Dự án ModEs nhằm hiện đại hóa giáo dục Đại học Châu Âu thông qua KNM. Cải cách chương trình giảng dạy bằng cách lồng ghép KNM vào chương trình chung Châu Âu, tạo KN làm việc theo định hướng mới (lãnh đạo, năng lực để tạo ra những ý tưởng mới, sáng tạo…). Qua dự án, Haselberger D. và các cộng sự 6 Luan van [37] đã đưa ra tài liệu Handbook, trong đó trình bày rất chi tiết các mục tiêu mà mỗi KN cần phải đạt được.
Tài liệu cũng đã trình bày rất rõ các phương pháp dạy học, phương pháp đánh giá cần sử dụng để giảng dạy cho từng loại KNM. Cơ sở lí luận về KNM cũng được tài liệu làm rõ, khái niệm về KNM, phân loại và xác định được 22 KNM mà người sử dụng lao động cần. Hội thảo lần thứ XXI về giáo dục và đào tạo kĩ thuật phần mềm, tác giả Taran G. [43] đã có bài viết: “Giảng dạy một cách sáng tạo các KN tương tác trong các lớp học đa dạng ngày nay”.
Tác giả đề cao vai trò của việc thiết kế phần mềm đào tạo đối với việc hình thành, phát triển KNM cho SV bằng cách sử dụng cách tiếp cận tương tác và cho rằng để phát triển KNM cho SV thì các chương trình cần kế hợp nhiều hoạt động như: Đóng kịch, nghiên cứu tình huống, phân tích hình ảnh video, ra quyết định giải quyết các tình huống… nhằm rèn luyện KNM và nâng cao kết quả học tập của SV. Ngoài ra cũng có nhiều tác giả đã quan tâm nghiên cứu và đề xuất các KN cần thiết giáo dục cho HS và SV, đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp qua các tác phẩm, bài báo, tạp chí, luận văn, luận án: Tác giả Greenberg A. [36] nghiên cứu về vai trò của giáo dục đối với sự hình thành các KNM, phát triển chuyên môn trong đội ngũ GV, xây dựng phương thức kiểm tra đánh giá mới và thay đổi phương pháp giảng dạy để phát triển KNM cho người học. Hertlein [38] nêu ra thực trạng và sự cần thiết đào tạo KNM cho HS trong hệ đào tạo giáo dục từ xa các KN như: Kĩ năng nghe và tư duy phân tích; Giao tiếp; Lãnh đạo; Giải quyết vấn đề; Làm việc nhóm… và đề xuất các giải pháp thay đổi hình thức đánh giá, và rèn luyện KN cho HS thông qua bài tập là các chủ đề gắn với cuộc sống.
Tác giả Maria Salih [41] đã khẳng định tầm quan trọng của KNM là bản chất của giáo dục, là góp phần vào sự phát triển chất lượng nguồn nhân lực, từ đó ảnh hưởng đến sự phát triển của một quốc gia và đưa ra một số KNM vào chương trình đào tạo như: KN giao tiếp; Làm việc nhóm; Giải quyết vấn đề; Quản lí, lãnh đạo. 7 Luan van Tác giả Robert Dalton [34] đã nghiên cứu khảo sát xếp hạng 7 KN cốt lõi như: KN giao tiếp; Ra quyết định; Giải quyết vấn đề; Tự quản lí; Làm việc nhóm; Kinh nghiệm hành động và lãnh đạo. Nghiên cứu tìm hiểu mức độ ưu tiên người lao động sử dụng và so sánh giữa giảng viên, SV với cựu SV để ưu tiên và tập trung phát triển cho SV. [42] với bài viết “Sự cần thiết và tầm quan trọng của KNM đối với sinh viên”, cho rằng KNM đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển nhân cách và triển vọng nghề nghiệp và đưa ra 15 KNM cần dạy cho SV nhằm đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động tại Ấn Độ đó là các KN: Giao tiếp; Thuyết trình; Quản lí thời gian; Chăm sóc khách hàng… Tác giả Sharma [55] với bài viết “Tầm quan trọng của kĩ năng mềm trong phát triển giáo dục” nhận định KNM là KN quan trọng nhất trên thị trường làm việc toàn cầu hiện nay.
Sharma lựa chọn bảy loại KN và phân loại các KNM theo hai nhóm: KN mà mỗi cá nhân phải có và KN nếu có thì tốt. Sharma đã đưa ra hai mô hình để phát triển KNM cho SV: 1. Mô hình chủ đề riêng biệt (Stand Alone subject Model), mô hình này đào tạo KNM cho SV thông qua các khóa học nhỏ theo chủ đề hoặc trong các môn học tự chọn, và là một yêu cầu tổng thể trong chương trình đào tạo; 2. Mô hình lồng ghép (Embedded model): lồng ghép KNM vào trong giảng dạy và các hoạt động học tập.
Để SV có được các KNM thông qua các hoạt động giảng dạy và học tập bằng cách lên kế hoạch, sử dụng chiến lược và phương pháp cụ thể. Sử dụng các phương pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm như: thảo luận, làm việc nhóm, thuyết trình, đóng vai, học dựa vào dự án… Tác giả Prof. Taki Abdul Redha Al Abduwani [33] nghiên cứu đánh giá các nhóm KNM cá nhân đạt được sau khi đào tạo, huấn luyện. So sánh giữa KNM và KNC, giữa các ngành với nhau như quản lí cấp cao với quản lí cấp cơ sở; ngân hàng với dầu khí… Tác giả đã nghiên cứu, xây dựng phân loại các KNM thể hiện qua bánh xe kĩ năng và các khoảng cách nói lên tầm quan trọng của KNM ngày càng tăng.
Nhìn chung, sự phát triển KNM trong giáo dục, đặc biệt ở Cao đẳng, Đại học trên thế giới phát triển rất mạnh, các nước cùng chung một quan điểm là nhận thấy 8 Luan van tầm quan trọng của KNM trong thế kỷ 21, và đã đưa KNM giáo dục ngoài giờ lên lớp, tổ chức giảng dạy thành một môn học bắt buộc, hoặc rèn luyện KNM thông qua dạy học bằng cách áp dụng các phương pháp dạy học hiện đại. KNM cũng được các nước làm chuẩn đầu ra bắt buộc cho HS, SV sau khi tốt nghiệp. Tại Việt Nam Thuật ngữ KNM được quan tâm bắt đầu từ năm 1996, khi tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) đề xuất bốn mục tiêu trụ cột của việc học tập là “Học để biết, học để làm, học để cùng chung sống, học để tự khẳng định mình”. Nền giáo dục Việt Nam cũng bắt đầu hướng đến một chương trình giáo dục toàn diện: Dạy học là dạy cả tri thức, KN và thái độ sống để học sinh hội nhập và thích nghi với thế giới.
Tại Việt Nam, các tác giả nghiên cứu KNM song song cùng KNS. Nguyễn Thanh Bình là người đầu tiên nghiên cứu về giáo dục KNS tại Việt Nam theo quan điểm của UNESCO. Năm 2005, với đề tài “Giáo dục KNS ở Việt Nam” do Nguyễn Thanh Bình làm trưởng nhóm nghiên cứu. Đây là đề tài nghiên cứu về KNS mang tính lý luận trong đào tạo giáo dục tại Việt Nam.
Với đề tài “thử nghiệm giáo dục KNS cho học sinh THPT” Nguyễn Thanh Bình đã nghiên cứu thử nghiệm 5 chủ đề: xác định giá trị, giao tiếp, đương đầu với căng thẳng, giải quyết mâu thuẫn một cách tích cực và lựa chọn nghề. Kết quả thử nghiệm cũng cho thấy có sự thay đổi rõ về kiến thức, thái độ và định hướng hành vi của những HS tham gia. Đồng thời, cuốn sách “Giáo trình giáo dục KNS” của Nguyễn Thanh Bình được ra đời sau khi tác giả tham gia dự án đào tạo GV THCS.