Chương 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ KỸ NĂNG HỌC TẬP VÀ KỸ NĂNG HỢP TÁC TRONG HỌC TẬP NHÓM CỦA SINH VIÊN 1. Các nghiên cứu về kỹ năng trong học tập Các nghiên cứu về kỹ năng trong học tập của các tác giả nước ngoài và ở Việt Nam, theo 2 hướng cơ bản gồm: các nghiên cứu về kỹ năng học tập nói chung và các nghiên cứu về các kỹ năng cấu thành nên kỹ năng học tập. Các tác giả trong nước và các tác giả nước ngoài đều nhấn mạnh đến vai trò của kỹ năng học tập, trong học tập hiện đại. Có nhiều quan niệm khác nhau về các kỹ năng cấu thành nên kỹ năng học tập.
Các nghiên cứu ở nước ngoài a. Hướng nghiên cứu về kỹ năng học tập nói chung Hướng nghiên cứu về kỹ năng học tập là mối quan tâm của nhiều tác giả như: Craig Rusbult, Sternberg. Tác giả Geoff Petty (1998) cho rằng để thực hiện một kỹ năng học tập cụ thể cần: (1) Giải thích (giải thích cho học sinh hiểu vì sao phải thực hiện kỹ năng); (2) Làm chi tiết (học sinh cần phát hiện một cách chính xác cái mà giáo viên mong muốn người học đạt được là gì và học sinh cần phải thực hiện điều đó như thế nào?); (3) Sử dụng ( học sinh phải thực hành kỹ năng các kỹ năng được học) [57]. R (2004) nghiên cứu sâu về hoạt động học qua việc ứng dụng Tâm lý học nhận thức để nâng cao các kỹ năng trí tuệ.
Tác giả xây dựng chương trình rèn luyện kỹ năng trí tuệ cho người học thông qua hoạt động giảng dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh. Tác giả phân tích sâu sắc các kỹ năng của tư duy để có được các cách dạy/ học phù hợp, hiệu quả. R cũng nhấn mạnh mục đích cao nhất của việc dạy tư duy là để người học có được các kỹ năng học tập tốt nhất [81]. Hướng nghiên cứu về các kỹ năng học tập cụ thể Trong các công trình nghiên cứu của A.M Mchiuskin (1986) đã chỉ rõ: kỹ năng tự học là kỹ năng quan trọng cần phải hình thành cho người học.
Các tác giả cũng khẳng định việc giao và 8 giải bài tập trong thời gian tự học là một biện pháp quan trọng nhằm nâng cao tính tích cực; độc lập của sinh viên trong quá trình tự [5], [11], [31], [33]. Petrovxki (1982) cho rằng để có được kỹ năng học tập, trước hết cần phải biết xây dựng, lập kế hoạch học tập và thực hiện nghiêm túc theo kế hoạch đó. Đây là những yếu tố quan trọng trong hoạt động học tập của sinh viên nhằm đạt hiệu quả cao [23], [33]. Tony Buzzan (2007) cho rằng kỹ năng học tập cho sinh viên bao gồm kỹ năng: kỹ năng đọc nhanh; kỹ năng ghi nhớ và hệ thống hóa kiến thức.
Đặc biệt ông đã đưa ra bản đồ tư duy ứng dụng vào việc hỗ trợ khả năng ghi nhớ thông tin. Theo ông các yếu tố làm giảm hiệu quả học tập bao gồm: Sự miễn cưỡng của người học; các trở ngại tinh thần; các kỹ thuật học tập lạc hậu. Khi nói tới các kỹ thuật học tập tác giả cho rằng : “ Thay vì bao vây người học bởi lượng thông tin, người học chỉ biết tiếp thu và ghi nhớ thì chúng ta cần dạy về chính bản thân họ; cách họ học; cách họ tư duy, nhớ lại; sáng tạo và giải quyết vấn đề” [43]. Với phương pháp lập bản đồ tư duy, Tony Buzzan đã đưa ra một phương pháp tư duy mới là tận dụng khả năng ghi nhận hình ảnh của bộ não nhằm tổng hợp hay phân tích một vấn đề thành một dạng lược đồ phân nhánh.
Cách lập biểu đồ tư duy dựa trên sự liên tưởng, màu sắc và các biểu tượng. Khác với máy tính, ngoài khả năng ghi nhớ kiểu tuyến tính (ghi nhớ theo trình tự) thì não bộ của chúng ta có khả năng liên hệ giữa các dữ kiện với nhau [43]. Tác giả Colin Rose & Malcolm J. Các nghiên cứu ở Việt Nam Hầu hết các tác giả Việt Nam thường vận dụng những kết quả nghiên cứu Tâm lý học hoạt động khi nghiên cứu về các kỹ năng học tập và cách hình thành, rèn luyện các kỹ năng này cho người học.
Như vậy ở Việt Nam, các tác giả có xu hướng tiếp cập kỹ năng học tập theo hướng cụ thể hóa, gắn liền kỹ năng học tập với các kỹ năng cấu thành nên hoạt động học tập. Tác giả Dương Diệu Hoa (1995) nghiên cứu “Hình thành kỹ năng đọc và viết Tiếng Việt cho học sinh đầu lớp 1” [15]. Tác giả đã cụ thể hóa cơ chế tâm lý của sự 9 hình thành kỹ năng đọc và viết tiếng Việt theo phương pháp ngữ âm trực tiếp – tổng hợp dựa trên cơ sở định hướng khái quát hành động học của học sinh. Tác giả Đỗ Thị Châu (1999) nghiên cứu kỹ năng đọc hiểu tiếng Anh, tác giả khẳng định: Kỹ năng đọc hiểu tiếng Anh gồm có khả năng tri giác; tái tạo lời nói và thông hiểu nó, cụ thể là ở khả năng nhận biết từ, kỹ năng liên kết từ nghĩa, kỹ năng dự đoán; kỹ năng thông hiểu nội dung, kỹ năng tái tạo lại lời nói (trong đó có kỹ năng phát âm và kỹ năng thể hiện ngữ điệu khi đọc thành tiếng) và tốc độ đọc [4; tr 38].
Tác giả Đào Thị Diệu Linh (2015) nghiên cứu kỹ năng ghi nhớ từ tiếng Anh. Tác giả quan niệm trong hoạt động học tập tiếng Anh, kỹ năng ghi nhớ từ là rất quan trọng. Kỹ năng này bao gồm 3 nhóm kỹ năng biểu hiện: Kỹ năng ghi nhận đặc điểm từ tiếng Anh; Kỹ năng ghi nhận cách dùng từ tiếng Anh và Kỹ năng sử dụng cách thức ghi nhớ từ tiếng Anh [26; tr 44]. Tác giả Nguyễn Như An (1993) phân chia kỹ năng cho sinh viên sư phạm thành 2 nhóm: Nhóm các kỹ năng nền tảng và Nhóm các kỹ năng chuyên biệt [1].
Các tác giả Đặng Thành Hưng (2004) đã chia kỹ năng học tập hiện đại của học sinh thành 3 nhóm kỹ năng: Nhóm kỹ năng nhận thức; Nhóm kỹ năng giao tiếp; Nhóm kỹ năng quản lý [18]. Tác giả Trần Quốc Thành (1992) đưa ra một hệ thống kỹ năng cần rèn luyện cho học sinh: Kỹ năng định hướng; Kỹ năng thiết kế; Kỹ năng thực hiện; Kỹ năng kiểm tra, đánh giá. Theo tác giả, các kỹ năng này cần được giáo viên tổ chức giảng dạy và bồi dưỡng cho người học trong hoạt động giảng [35]. Các công trình nghiên cứu của các tác giả Trần Thị Minh Hằng (2003); Nguyễn Thị Thúy Hạnh (2011) về kỹ năng học tập và tự học, kỹ năng tự học từ xa đã thống nhất cho rằng kỹ năng học tập là hệ thống phức hợp rất nhiều kỹ năng cấu thành như: Nhóm kỹ năng định hướng; Kỹ năng tiếp nhận và phát hiện vấn đề; Kỹ năng lập kế hoạch tự học; Nhóm kỹ năng thực hiện hoạt động tự học; Kỹ năng đọc sách; Kỹ năng nghiên cứu tài liệu; kỹ năng giải quyết các bài tập nhận thức; kỹ năng thực hành.nhóm kỹ năng kiểm tra đánh giá hoạt động tự học; Nhóm kỹ năng học tập trên lớp; Nhóm kỹ năng đọc tài liệu học tập và Nhóm kỹ năng Xemina.
Các nghiên cứu về hợp tác trong học tập nhóm 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Trong cuốn “Nền dân chủ và giáo dục”, John Dewey (1916) đã viết, con người có bản chất sống hợp tác, trẻ cần được dạy biết cảm thông, tôn trọng quyền của người khác, làm việc cùng nhau để giải quyết vấn đề và cần được trải nghiệm quá trình sống hợp tác ngay từ trong nhà trường [6]. Trong các tác phẩm của Vygotsky (1962), cho thấy khi học sinh làm việc cùng nhau, xung đột về mặt xã hội sẽ kích thích nhận thức[90]. Ông nhấn mạnh rằng "Mỗi chức năng trong sự phát triển văn hoá của đứa trẻ xuất hiện hai lần: đầu tiên ở cấp xã hội, và sau đó mới ở mức độ cá nhân" [91].
Cuộc canh tân giáo dục mạnh mẽ trong những năm cuối thế kỉ 19 đầu thế kỉ 20 đã mở ra nhiều hướng đổi mới dạy học tập trung vào hoạt động của người học và khai thác môi trường dạy học. Với tư tưởng giáo dục đề cao vai trò của người học “Lấy người học làm trung tâm”, một lần nữa nhà giáo dục Mỹ John Dewey là người đi tiên phong trong phong trào vận động cải cách giáo dục. Ông chủ trương xây dựng “nhà trường hoạt động” – “dạy học qua việc làm”. Như vậy John Dewey đã nhấn mạnh trong nhà trường luôn phải có sự phối hợp giữa giáo viên và học sinh, trong đó học sinh là trung tâm của lớp học [6].
Trong những thập kỉ 90 của thế kỉ XX, hàng loạt các phương pháp dạy học theo mô hình học tập hợp tác đã phát triển và phổ biến ở Hoa kỳ, Canada, Israel và Tây Âu. Những lí luận nền tảng về học tập hợp tác được nghiên cứu và hệ thống bởi R. Các tác giả đã nghiên cứu, triển khai các bài học, chương trình, chiến lược, kỹ năng dạy học hợp tác [47], [53],[55],[73],[79],[85].Johnson & Smith (1995), đã định nghĩa: “Học tập hợp tác là mô hình trong đó người học làm việc trong các nhóm nhỏ để hoàn thành một mục tiêu hoạt động chung trong điều kiện giữa họ có sự phụ thuộc chặt chẽ, song mỗi cá nhân đều chịu trách nhiệm cụ thể, đồng thời sự tương tác trực tiếp giữa các 11 cá nhân được thúc đẩy, các kỹ năng cộng tác được sử dụng thích hợp và nhóm ngày càng được củng cố”. Còn xét theo khía cạnh hoạt động dạy học thì các tác giả cho rằng: Học tập hợp tác là mô hình trong đó giáo viên sử dụng hình thức học tập theo nhóm để người học làm việc cùng nhau nhằm thúc đẩy cao nhất hoạt động học tập của mỗi em [85].Slavin (1995) ông đã tìm ra hai loại phương pháp học tập hợp tác, gồm : (1) Học tập theo nhóm có cấu trúc, đặc trưng bởi trách nhiệm cá nhân, có nghĩa là sự thành công của nhóm phụ thuộc vào từng cá nhân học tập và kết của nhóm dựa trên tiến bộ học tập của từng thành viên; (2) Học tập theo nhóm không chính thức , tập trung hơn vào động lực xã hội và thảo luận, học sinh cần phải có lý do để thực hiện các nhiệm vụ chung với nhau một cách nghiêm túc.
Bằng chứng cho thấy kết quả của nhóm và trách nhiệm cá nhân là những yếu tố cần thiết để nâng cao thành tích của nhóm. Học tập nhóm, không chỉ đơn giản là yêu cầu học sinh làm việc cùng nhau [79].