mở đầu, nội dung, kết luận. Trong đó phần nội dung có 3 chƣơng: Chƣơng 1. Nhận thức chung về NLTH của học sinh THPT Chƣơng 2: Thực trạng NLTH môn Địa lí trong ôn thi tốt nghiệp THPT Chƣơng 3: Một số giải pháp nhằm phát triển NLTH môn địa lí trong ôn thi tốt nghiệp THPT PHẦN II: NỘI DUNG C ƢƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN NĂNG TỰ HỌC CHO HỌC SINH NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÔN THI TỐT NGHIỆP THPT MÔN ĐỊA LÍ 1.
Đổi mới phƣơng pháp dạy học và kiểm tra đánh giá Tại Nghị quyết số 29-NQ/TW Hội nghị lần thứ Tám Ban Chấp hành Trung ƣơng khóa XI ngày 04 tháng 11 năm 2013 đã khẳng định đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, trong đó nêu rõ“Đổi mới hình thức, phương pháp thi, kiểm tra và đánh giá kết qủa giáo dục theo hướng đánh giá năng lực của người học”. “Chiến lƣợc phát triển giáo dục giai đoạn 2011-2020” kèm theo Quyết định số 711/QĐ-TTg ngày 13/06/2012 của thủ tƣớng chính phủ chỉ rõ “Tiếp tục đổi mới phƣơng pháp dạy học và kiểm tra đánh giá kết quả học tập, rèn luyện theo hƣớng phát huy tính tích cực tự giác, chủ động, sáng tạo và năng lực của ngƣời học” Định hƣớng đó tạo tiền đề, cơ sở, điều kiện, môi trƣờng để đổi mới giáo dục phổ thông nói chung, đổi mới đồng bộ phƣơng pháp dạy học theo định hƣớng phát triển NL ngƣời học. Dạy học phải thay từ việc quan tâm đến việc HS học đƣợc cái gì bây giờ phải quan tâm HS hình thành NL g để vận dụng, áp dụng vào việc học, đời sống. Để khắc phục điều đó th phải thực hiện thành công việc chuyển từ phƣơng pháp dạy học theo lối “truyền thụ một chiều” sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện KN, hình NL và phẩm chất.
V vây, để đạt hiệu quả cao trong dạy học ngƣời GV phải có KN vận dụng tốt phƣơng pháp tiên tiến và phƣơng pháp hiện đại vào quá tr nh dạy học, sử dụng sơ đồ tƣ duy vào dạy học. Việc t m ra các biện pháp hữu hiệu tổ chức có hiệu quả hoạt động TH để trang bị cho ngƣời học NLTH là nhu cầu cấp thiết và có ý nghĩa lâu dài. Đổi mới kì thi tốt nghiệp THPT môn Địa lí Thi trắc nghiệm là h nh thức khá phổ biến trên thế giới, tuy nhiên ở Việt Nam th chỉ mới triển khai trong vài năm gần đây. Từ năm 2008-2015, các thí sinh vẫn phải thi 2 kỳ thi riêng biệt (thi tốt nghiệp và Đại học - Cao đẳng), trong đó h nh thức thi trắc nghiệm với 4 môn thi trắc nghiệm: Lý, Hóa, Sinh, Ngoại ngữ.
Năm 2015, 2016, Việt Nam đã bắt đầu áp dụng kỳ thi chung. Thí sinh dự thi sẽ dùng kết quả thi tốt nghiệp THPTQG để xét tuyển vào các trƣờng Đại học - Cao đẳng v vậy mỗi ngƣời chỉ cần chọn thêm những môn liên quan đến khối thi (ngoài Toán, Văn, Anh) để đủ điều kiện xét tuyển. Từ năm 2017 trở lại, thí sinh dự thi phải trải qua 4 môn thi, trong đó 3 môn bắt buộc là Toán, Văn, Anh và 1 môn tổ hợp là Tự nhiên (Lý, Hóa, Sinh) hoặc Xã hội (Sử, Địa, GDCD) trong đó chỉ duy nhất môn Ngữ Văn thi theo h nh thức tự luận. Từ năm 2020, kỳ thi đổi tên thi tốt nghiệp THPT dùng để để xét tốt nghiệp, các trƣờng Đại học - Cao đẳng chủ động trong tuyển sinh (có thể sử dụng kết quả thi tốt nghiệp để xét tuyển vào các trƣờng Đại học - Cao đẳng, một số trƣờng không sử dụng ĐH kết quả thi tốt nghiệp để xét tuyển mà tổ chức k thi đánh giá NL).
Kiểm tra trắc nghiệm có nhiều ƣu điểm ngăn chặn t nh trạng gian lận, tiêu cực trong phòng thi. Thi trắc nghiệm cũng buộc học sinh phải học đều chƣơng tr nh, tránh học tủ, học lệch. Địa lí là một môn thành phần thuộc tổ hợp khoa học xã hội bắt đầu chuyển sang thi trắc nghiệm từ năm 2017. Đề thi gồm 40 câu với thời gian làm bài 50 phút, dạng câu trắc nghiệm 4 đáp án lựa chọn 1 phƣơng án đúng đánh giá cả lí thuyết lẫn thực hành theo 4 mức độ nhận thức: Nhận biết, thông hiểu, vận dụng thấp, vận dụng cao.
- Mức độ nhận biết là kiến thức cơ bản về Địa lí trong chƣơng tr nh, SGK nhớ lại các dữ liệu, thông tin đã có trƣớc đây, có nghĩa là có thể nhận biết thông tin, tái hiện, ghi nhớ lại,. Đây là mức độ, yêu cầu thấp nhất của tr nh độ nhận thức thể hiện ở chỗ HS có thể và chỉ cần nhớ hoặc nhận ra khi đƣợc đƣa ra hoặc dựa trên thông tin có tính đặc thù của một khái niệm, sự vật hiện tƣợng. Mức độ nhận biết cụ thể hoá là kiểm tra: HS nhận ra, nhớ lại các khái niệm, biểu tƣợng, sự vật, hiện tƣợng hay một thuật ngữ địa lí nào đó,. ; HS nhận dạng: hình thể, địa hình, vị trí,.
; HS liệt kê và xác định các vị trí tƣơng đối, các mối quan hệ đã biết giữa các yếu tố, các hiện tƣợng. Mức độ nhận biết là các câu hỏi dễ, ở mức độ này chỉ yêu cầu HS tƣ duy đơn giản: ghi nhớ, tính toán, áp dụng công thức khái niệm, kiến thức sơ cấp, trực quan, không phức tạp và trừu tƣợng. - Mức độ thông hiểu là hiểu biết, giải thích và chứng minh đƣợc các sự vật và hiện tƣợng địa lí. HS có khả năng diễn đạt đƣợc kiến thức đã học theo ý hiểu của mình, sử dụng đƣợc kiến thức và kĩ năng trong t nh huống quen thuộc.
Ở mức độ này đòi hỏi HS phải hiểu bản chất và mối quan hệ của các các sự vật và hiện tƣợng địa lí. Mức độ thông hiểu cụ thể là: Hiểu đƣợc về khái niệm, tính chất của sự vật hiện tƣợng, biểu thị, minh hoạ, giải thích đƣợc ý nghĩa của các khái niệm, hiện tƣợng, lựa chọn, sắp xếp lại những thông tin cần thiết để giải quyết một vấn đề nào đó. - Mức độ vận dụng thấp NL, phẩm chất của HS (theo hƣớng mở, tích hợp, liên môn, gắn với các vấn đề thực tiễn). HS có khả năng sử dụng các kiến thức đã học vào một hoàn cảnh cụ thể mới: vận dụng nhận biết, hiểu biết thông tin để giải quyết vấn đề đặt ra; là khả năng đòi hỏi HS phải biết vận dụng kiến thức, biết sử dụng phƣơng pháp, nguyên lý hay ý tƣởng để giải quyết một vấn đề nào đó.
Mức độ vận dụng thấp HS sẽ: so sánh các phƣơng án giải quyết vấn đề; phát hiện lời giải có mâu thuẫn, sai lầm và chỉnh sửa đƣợc; giải quyết đƣợc những tình huống mới bằng việc vận dụng các khái niệm, biểu tƣợng, đặc điểm đã biết.; khái quát hoá, trừu tƣợng hoá từ tình huống quen thuộc, tình huống đơn lẻ sang tình huống mới, tình huống phức tạp hơn. Mức vận dụng thấp th HS bƣớc đầu phân tích, tổng hợp, áp dụng công thức tính toán 1 đến 2 bƣớc, lập luận, giải thích mối quan hệ trực tiếp, kiến thức cơ bản, chƣa phức tạp và trừu tƣợng quá. - Mức độ vận dụng cao HS có khả năng sử dụng các khái niệm cơ bản, các KN, kiến thức để giải quyết một vấn đề mới chƣa đƣợc học hay chƣa trải nghiệm trƣớc đây (sáng tạo). Vận dụng vấn đề đã học để giải quyết các vấn đề thực tiễn cuộc sống.
Mức độ vận dụng cao HS khả năng phân tích (HS khả năng nhận biết chi tiết, phát hiện và phân biệt các bộ phận cấu thành của thông tin hay tình huống), tổng hợp ( khả năng hợp nhất các thành phần để tạo thành một tổng thể, sự vật lớn), đánh giá (khả năng phán xét giá trị sử dụng thông tin theo tiêu chí thích hợp). Mức độ vận dụng cao bằng các câu hỏi khó đòi hỏi tƣ duy cao trong việc phân tích, đánh giá, tổng hợp và sự sáng tạo, kiến thức khá sâu sắc, trừu tƣợng và đòi hỏi tính toán, lời giải từ 2 bƣớc trở lên. Nhƣ vậy, những điểm mới trong phƣơng án thi tốt nghiệp THPT liên quan trực tiếp đến bộ môn Địa lí là cơ sở lý luận quan trọng cho việc đổi mới PPGD của GV môn Địa lí là ở trƣờng THPT hiện nay.Các khái niệm cơ bản 1.1 Tự học, tự học địa lí a. Tự học * Khái niệm Tự học là cụm từ mà từ trƣớc đến nay có rất nhiều nhà khoa học, nghiên cứu đƣa ra theo nhiều chiều hƣớng khác nhau.
Hồ Chí Minh là một tấm gƣơng sáng, đồng thời là nhà lý luận về giáo dục, về TH. Ngƣời định nghĩa: Tự học là “tự động học tập”. “Tự động học tập” có nghĩa là việc học tập do chính bản thân ngƣời học quyết định, ngƣời học tự giác, tự chủ không cần sự nhắc nhở, giao nhiệm vụ của ngƣời khác, tự m nh nhận thấy nhu cầu của bản thân để rồi từ đó tiến hành việc tự học. Bác giải thích: “Tự động là không tựa vào ai, là tự m nh biết biến báo xoay xở, tự m nh biết thực hành công tác theo nhiều h nh thức mới mẻ, phong phú”.
Nhƣ vậy, theo Hồ Chí Minh, tự học là tự m nh quản lý việc học tập, lĩnh hội tri thức của bản thân. Ngƣời học tự vạch ra kế hoạch học tập cho chính m nh, kiên tr và nhẫn nại thực hiện kế hoạch đó một cách bài bản, sau đó ngƣời học tự kiểm tra đánh giá kết quả đã đạt đƣợc, rút kinh nghiệm cho bản thân m nh. Theo GS-TS KH Thái Duy Tuyên “Tự học là hành động đọc lập chiếm lĩnh kiến thức, KN, kỹ xảo là tự m nh động não suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp…) cùng các phẩm chất động cơ, t nh cảm để chiếm lĩnh tri thức một lĩnh vực hiểu biết nào đó hay kinh nghiệm lịch sử, xã hội nhân loại .” Trong tạp chí Nghiên cứu giáo dục số 7/1998 khi bàn về tự học của tác giả Nguyễn Kỳ “Tự học là ngƣời học tích cực, chủ động, tự mình tìm ra tri thức kinh nghiệm bằng những hành động chính của mình, tự thể hiện mình. TH là tự đặt mình vào những tình huống học, vào vị trí nghiên cứu, xử lý các tình huống, giải quyết vấn đề, thử nghiệm các giải pháp.
Tự học phụ thuộc vào các quá trình cá nhân hóa việc học”.