CHƯƠNG I1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VE HOAT DONG TU HOC CUA SINH VIÊN VÀ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHÓ HÒ CHÍ MINH.Lịch sử nghiên cứu vấn đề tự học.Tư tưởng về vấn đề tự học của người học đã có từ lâu trong lịch sử giáo dục học. Ngay từ thời kỳ cô đại nhiều nhà giáo dục học cũng đã nhận thấy vai trò quan trọng của tự học. Không Tử ( 551 - 479 trước công nguyên ), nhà giáo dục học kiệt xuất của Trung Hoa cỗ đại đã từng nói với học trò của mình là: “Không tức giận vì không muốn biết thì không gợi mở cho, không bực tức vì không rõ thì không bày vẽ cho. Vật có bốn góc, bảo cho biết một góc mà không suy ra được ba góc kia thì không dạy nữa”.
Ông đòi hỏi học trò phải biết kết hợp nghe giảng của thầy và tự nghiên cứu tìm tòi để hiểu biết, phải biết phát huy tính năng động chủ quan mà học tập. Nhà sư phạm Tiệp Khắc J. Comenxki ( 1592 - 1670 ), ông tổ của nền sư phạm cận đại đã có nhiều tư tưởng về hoạt động tự học của người học. Khi nói về động cơ ý thức của tự học ông đã từng khăng định: “Không có khát vọng học tập thì không thê trở thành tài năng”.
Trong thế ki thứ XVIII - XIX Các nhà giáo dục hoc nhu Rousseau J. ( 1746 - 1827 ) Distervers ( 1790 - 1866 ) va Usinxki ( 1824 - 1890 ) da quan tâm đến sự phát triển trí tuệ, tính độc lập, tính sáng tạo của học sinh. Các tác giả cho rằng người học cần phải giành lẫy tri thức bằng con đường tự khám phá, tự tìm tòi [11- tr.Các nước phương Tây cũng rất quan tâm tới hoạt động tự học của học sinh, sinh viên. Ở Pháp, trong đầu thế kỉ XX các nhà giáo dục đã tập trung nghiên cứu tìm kiếm những phương pháp dạy học dựa trên cơ sở tô chức thức đây hoạt động tự học của học sinh, ví dụ như “phương pháp lạc quan”.
99]: phương pháp Montessori [ 27 -tr. 39 - 64 ]; phương pháp Ademars và Lafendel [13 - tr. Các phương pháp này đã nhấn mạnh vai trò cá nhân của người học đến mức độ để cho họ phát triển một cách tự do. Tinh trang dé cao quá mức vai trò của người học đã gặp sự phản đối của một số nhà giáo dục học.
Nhằm khắc phục tình trạng nói trên Decroly đã đưa ra phương pháp “lương tâm tri thức ”[ 27 - tr. 62-90], ở đó người học tự 13 lĩnh hội tri thức đã được lựa chọn và tô chức thành môi trường hoạt động gần giống với môi trường thực có chứa tri thức cần truyền thụ. Song phương pháp này không khả thi vì quá phức tạp và tốn kém khi phải tô chức, xây dựng môi trường sống sao cho đạt được mục dich dạy học. Những phương pháp trên chủ yếu dựa vào hoạt động tự học của người học.
Nhưng do nhắn mạnh quá mức vai trò cá thể, vai trò của người học, hạ thấp vai trò của người giáo viên nên đã làm phức tạp hóa quá tành dạy học. Ở Mỹ, ngay từ năm 1920 tại trường Dalton đã đưa ra và áp dụng kế hoạch dạy học mới gọi là kế hoạch Dalton [13]. Theo kế hoạch này giáo viên chỉ có nhiệm vụ vạch ra những công việc phải làm và ký hợp đồng thực hiện với người học. Người học sẽ quyết định kế hoạch, thời gian biêu thực hiện.
Hoạt động học tập là sự tự học của người học trong các phòng thí nghiệm theo từng bộ môn và được kiểm soát bằng các lá phiếu. Kế hoạch này sau đó cũng bị phê phán là đã thu hẹp khoảng cách giữa giáo viên và học sinh và tách rời giữa dạy học với giáo dục. Vào đầu những năm 50, của thế kỷ XX, ở các nước Âu, Mỹ, các nhà giáo dục đã quan tâm tìm kiếm phương pháp giáo dục mới dựa vào tư tưởng “Lấy học sinh làm nhân vật trung tâm” (Learner centred approach) do J. Theo phương pháp tích cực hóa, người học không lĩnh hội tri thức bằng nghe thầy giảng giải mà tự học, tìm tòi qua đó lĩnh hội tri thức và giáo viên gợi sự chú ý ,kích thích, thúc đây cho học sinh tự hoạt động [21].
Như vậy, “Thầy trở thành người trọng tài đạo diễn, thiết kế tô chức việc làm, giúp đỡ học sinh biết cách làm, biết cách học”[ 22 - tr. Còn theo phương pháp hợp tác , hoạt động của mỗi cá nhân có mục đích và nhiệm vụ riêng, nhưng do họ được phối hợp thống nhất với nhau để đạt được mục tiêu chung. Người học hợp tác với nhau dé lĩnh hội tri thức, việc tự học của cá nhân trong tập thé 1a hoạt động chủ yếu [18 ]. Các phương pháp theo tư tưởng này đòi hỏi rất cao và chủ yếu dựa vào hoạt động tự học của người học.
Tuy nhiên các phương pháp trên cũng có hạn chế là không thê áp dụng cho mọi loại tri thức, đồng thời các phương pháp trên đòi hỏi nhiều thời gian, trình độ tô chức, thiết kế chương trình của giáo viên, năng lực và tính tự giác của người học.Ở châu Á cũng có nhiều nhà giáo dục đã quan tâm, chú ý đến hoạt động tự học của học sinh. 14 Ngay từ những năm 30 của thế kỷ này, nhà sư phạm người Nhật bản là Makiguchi đã có tác phẩm “giáo dục vì cuộc sống sáng tạo”.Với quan niệm cho rằng: “giáo dục xét như quá trình hướng dẫn tự học” [ 26 - tr. 19] mà động lực của nó là kích thích người học sáng tạo ra giá trí để đạt tới hạnh phúc của bản thân và của cộng đồng. Nam 1986, hai nha giáo dục Án Độ là S.
Sharma và Shakti R. Ahmed đã có tác phẩm “Phương pháp dạy học ở đại học”. Trong đó hoạt động tự học được trình bày như là một hình thức dạy học có hiệu quả cao. Thông qua thực hiện các nhiệm vụ nhận thức được thiết kế để hoàn thành mục đích, nhiệm vụ dạy học đã được xác định.
Đó là quá trình điều khiển hoạt động tự học của sinh viên một cách gián tiếp [ 35 - tr. Gần đây, tiến sĩ R. Singh (Án Độ ) đưa ra quan niệm về “Quá trình nhận biết -học - dạy”. Tác giả cho rằng người người học phải là những người tham gia tích cực vào quá trình nhận biết -học -dạy.
Ông nhắn mạnh : việc công nhận người học là lực lượng tích cực, đúng là lực lượng chủ đạo trong quá trình học kiến thức và việc họ tự nhận ra các tiềm năng của bản thân trong quá trình đó là điểm tựa chủ yếu cho việc định hướng lại giáo dục.Tuy nhiên tác giả vẫn khăng định giáo viên vẫn giữ vai trò quyết định trong quá trình nhận biết -học -dạy. Như vậy, vấn đề tự học của người học đã được các nhà giáo dục nước ngoài đã đề cập đến ở nhiều khía cạnh khác nhau. Đó là nhắn mạnh vai trò to lớn của tự học, tự nghiên cứu trong hoạt động học tập của người học. Để nâng cao chất lượng, hiệu quả của tự học ,hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập của sinh viên, các tác giả đã đề cập đến các biện pháp sư phạm khác nhau như: sinh viên phải có động cơ học tập và tự học mạnh mẽ, có kỹ năng tự học hợp lý coi như là điều kiện cơ bản đảm bảo cho hoạt động tự học có hiệu quả.
Đặc biệt, các tác giả quan tâm đến việc thiết kế và tô chức thực hiện hệ thống bài tập nhận thức, bài tập tự nghiên cứu , thông qua đó để hoàn thành nhiệm vụ học tập của sinh viên. Tự học là hình thức dạy học ở đại học, là hoạt động nhận thức của người học dưới sự chỉ đạo của giáo viên, là quá trinh tự đào lạo ngoài quá trình dạy học ở nhà trường. Đó là những cơ sở quý báu để chúng ta tiếp thu, chọn lọc và vận dụng vào thực tiễn dạy học ngày nay.Ở Việt nam, hoạt động tự học của học sinh và sinh viên cũng được đề cập đến trong lịch sử giáo dục và nhà trường qua các khía cạnh khác nhau tùy thuộc vào từng giai đoạn lịch sử xã hội nhất định. 15 - Dưới chế độ phong kiến, nền giáo dục của nước ta ảnh hưởng tư tưởng giáo dục của phong kiến Trung Quốc, đặc biệt là tư tưởng nho giáo.
Trong một thời gian dài, một số tư tưởng tiễn bộ về phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh của các nhà giáo dục học đã bị mai một dần. Quá trình học tập thường được chú ý tới việc học chữ, học kiến thức của thay. Hoạt động của người học ít được chú ý tới. Học sinh luôn gắn chặt với thầy giáo và làm theo thay, hoc theo thầy như một cái máy.
Cách học như vậy đã được Roger Gal khái quát “Người ta tìm thấy sự bắt chước đúng mà không cần độc đáo, người ta học thuộc lòng, người ta lặp lại đồng thanh với nhau” [12 - tr. - Dưới thời Pháp thuộc, cùng với chính sách xâm lược, khai thác bóc lột nước ta, thực dân Pháp đã dùng chính sách “ngu dân” để cai trị. Vì vậy chúng ta chỉ được hưởng một nền giáo dục hạn chế. Mọi động lực kích thích con người độc lập sáng tạo đều bị bóp nghẹt.
Hoạt đông tự học của người học không được chú ý tới. Như Georger Dumontier - tên cáo già thực dân đã thừa nhận: “Việc truyền bá một nên học vấn đầy đủ cho người bản xứ là hết sức dại dột [8 - tr. Đại đa số người dân mat nước Việt Nam lúc đó đều mù chữ. - Dưới thời Mỹ - ngụy ở miền Nam, một số nhà giáo dục có tư tưởng tiến bộ đã quan tâm đến vấn đề tự học như: Thiêm Giang Trần Kim Bảng [4], Nguyễn Duy Cần [§], Nguyễn Hiến Lê [24].
Tuy nhiên các tác giả chưa di sâu vào nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện hoạt động tự học, nhất là tự học của sinh viên đại học. Họ chỉ mới nêu lên một số phương pháp tự học mang tính kinh nghiệm cá nhân nhằm giúp người học tự trau d6éi học vấn ngoài sự đào tạo ở nhà trường. Nền giáo dục xã hội chủ nghĩa có những bước tiễn bộ và đạt được những thành tựu đáng kể trên nhiều lĩnh vực khác nhau của khoa học giáo dục, trong đó hoạt động tự học của người học đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm chú ý tới.