Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về đánh giá và tự đánh giá kết quả học tập của HS tiểu học 1. Trên thế giới Khoa học ngày nay chỉ ra rằng khoảng 10 vạn năm trước con người hiện đại ra đời và cũng biết nghĩ về thiên nhiên, về người khác và về bản thân. Một khi đã biết nghĩ về bản thân tức là phần nào họ đã có khả năng tự đánh giá mình.
Tự đánh giá hình thành dựa trên cơ sở lí thuyết về kinh nghiệm học tập được Lewin nêu ra, sau đó được Kolb (1984) và Schon (1984) phát triển. Theo AAIA, một tổ chức ở vùng Đông Bắc nước Anh chuyên nghiên cứu về những thành tựu và cải tiến việc đánh giá, đặc biệt quan tâm nghiên cứu về vấn đề tự đánh giá của học sinh trong học tập.Thành tựu nổi bật là họ đã xây dựng được các bước giúp học sinh tiểu học tự đánh giá kết quả học tập, tìm cách khuyến khích và giúp giáo viên điều khiển, định hướng quá trình học tập theo hướng phát huy năng lực của học sinh. Qua nghiên cứu, họ khẳng định các tư tưởng và kết quả có được vẫn có thể áp dụng được đối với học sinh ở các lớp lớn hơn. Ở Úc vấn đề tự đánh giá đã được rất quan tâm nghiên cứu và để trở thành nề nếp, thói quen trong quá trình học tập của học sinh Tiểu học.
Ở Canada, tự đánh giá được chú trọng nghiên cứu cả về lí thuyết và thực hành. Về mặt lí thuyết, qua các nghiên cứu của tác giả Baron (1990), Shavelon (1992), Bellanca và Berman (1994), Garcia và Pearson (1994), Wigins (1993), Hargreaves và Fullan (1998)….đã cho thấy vai trò của giáo viên thay đổi, do đó đánh giá phải có có sự thay đổi, chú trọng hơn đến tự 12 đánh giá. Rolheiser (1996) đã đưa ra dược mô hình lí thuyết tự đánh giá. Tác giả cho rằng tự đánh giá đóng một vai trò quan trọng một chu kì học tập của học sinh.
Theo mô hình đó khi người học tự đánh giá hiệu quả việc học họ sẽ biết được mức độ đạt được mục tiêu học tập của bản thân. Do đó, tự đánh giá sẽ khuyến khích học sinh đặt ra mục tiêu cao hơn và nỗ lực hết sức để đạt được mục tiêu học tập của mình. Thành tích đó có được là nhờ sự kết hợp giữa mục tiêu và sự nỗ lực. Trên cơ sở thành tích đó học sinh sẽ tự đánh giá (tự suy nghĩ, suy xét, tự phản ứng tự điều chỉnh) và do đó họ sẽ tự tin trong học tập.
Do đó nếu chúng ta làm cho người học làm tốt việc tự đánh giá thì họ có thể làm tốt hơn ở những chu kì học tập sau. Về mặt thực hành, Ross và các cộng sự (1998) đã thử nghiệm các bước giảng dạy cho sinh viên tự đánh giá. Qua thực tiễn vận dụng, các tác giả cho rằng: sử dụng hình thức tự đánh giá, quyền lực đánh giá của giáo viên bị chia sẻ, giáo viên cần có thời gian để làm và để hiểu cách thức đổi mới đánh giá này; mối quan hệ giáo viên và sinh viên có sự thay đổi, sinh viên cũng cần có thời gian để tìm hiểu về vai trò của nó đối với việc học của họ. Ở Việt Nam Ở Việt Nam đánh giá và tự đánh giá cũng đã được nghiên cứu, vận dụng ở nhều phương diện và mức độ khác nhau, nhưng nhìn chung mới chỉ ở những bước đầu tiên.
Có thể nêu một vài công trình tiêu biểu liên quan đến vấn đề đánh giá và tự đánh giá như sau: Hoàng Đức Nhuận, Lê Đức Phúc (2009), đã hệ thống khá đầy đủ về đánh giá và các vấn đề liên quan. Một trong những đóng góp quan trọng của tác giả là đã đưa ra được bảy nguyên tắc chung nhất về đánh giá, trong đó có nguyên tắc thứ bảy là “Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa đánh giá và tự đánh giá”. Như vậy các tác giả đã phần nào thấy được vai trò cần thiết của 13 người học trong quá trình đánh giá, đặc biệt các ông còn nêu ra cơ sở tâm lí học và giáo dục học của việc tự đánh giá của học sinh [10, tr. Nhóm tác giả Nguyễn Thị Lan Phương, Dương Văn Hưng, Nguyễn Đức Minh, Nguyễn Lê Thạch (2010) cũng đã đưa ra mục đích nội dung và các nguyên tắc cơ bản của đánh giá giáo dục, các loại đánh giá, quy trình đánh giá kết quả giáo dục và vai trò của đánh giá trong việc cải thiện chất lượng giáo dục.
Tác giả Trần Kiều đã hệ thống hóa các vấn đề về lí luận đánh giá, đồng thời đề xuất được các biện pháp để đổi mới phương thức đánh giá chất lượng giáo dục và các nguyên tắc khi xây dựng bộ công cụ để đánh giá chất lượng giáo dục trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn Việt Nam và một số nước trên thế giới. Đặc biệt, tác giả đã nhận thấy “Tự đánh giá của học sinh là một trong mười một vấn đề lí luận cần phải đổi mới qua khảo sát chất lượng giáo dục ở 10 tỉnh trên ba miền ở Việt Nam” [10, tr. Vũ Tế Xiển với bài báo “Tự đánh giá của học sinh ở các trường dạy nghề về những năng lực và phẩm chất của bản thân”, đã bước đầu điều tra thực trạng tự đánh giá về phẩm chất và năng lực của học sinh ở các trường nghề. Tác giả bước đầu đã chỉ ra được học sinh ở trường nghề tự đánh giá được những phẩm chất, năng lực nào của bản thân họ.
Đề tài này có ý nghĩa trong việc định hướng nghề nghiệp cho học sinh trước khi ra trường [10, tr. Nguyễn Thị Lan Phương (2011), cũng đã nghiên cứu rất kĩ về vấn đề đánh giá kết quả học tập của học sinh phổ thông và cũng đưa ra được một số vấn đề lí luận và thực tiễn. Trong tài liệu này tác giả đã đề cập đến một số khái niệm cơ bản trong đánh giá giáo dục. Ngoài ra tác giả cũng đã đề cập đến vấn đề tự đánh giá kết quả học tập của học sinh.
Phạm Xuân Chung (2012), trong đó đề cập đến vấn đề cho sinh viên ngành sư phạm Toán bước đầu tập luyện cho học sinh tự đánh giá kết quả học tập. 14 Như vậy vấn đề tự đánh giá trong giáo dục đã được nhiều tổ chức, nhiều nước, và nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu. Tuy nhiên chưa có tác giả và công trình nghiên cứu một cách sâu sắc về việc rèn luyện kĩ năng tự đánh giá kết quả học tập môn Toán của học sinh Tiểu học. Một số vấn đề về đánh giá và tự đánh giá kết quả học tập 1.
Đánh giá và đánh giá kết quả học tập Đánh giá trong giáo dục được coi là khâu cuối cùng trong một giai đoạn giáo dục nhất định. Nhưng cũng có quan điểm coi đánh giá là một quá trình dự báo, điều khiển hoạt động giáo dục theo mục đích đã định, do đó nó sẽ tiến hành trước, trong và sau một giai đoạn giáo dục. Với tư cách là một bộ phận của quá trình giáo dục, đánh giá ra đời cùng với sự ra đời của quá trình giáo dục. Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về đánh giá trong giáo dục.
Điểm qua một số công trình nghiên cứu thì đến nay khái niệm đánh giá vẫn còn được hiểu theo nhiều cách khác nhau giữa các tác giả. Tuy nhiên, các tác giả đều cùng chung ý tưởng sau: + Đánh giá là một quá trình thu thập, phân tích, lí giải về hiện trạng chất lượng, về hiệu quả, nguyên nhân và khả năng của học sinh. + Đánh giá gắn bó chặt chẽ với mục tiêu, chuẩn giáo dục. + Đánh giá tạo cơ sở đề xuất những quyết định thích hợp để cải thiện thực trạng, nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy học và giáo dục.
Thông qua đánh giá, giáo viên có thể thu được các mối liên hệ ngược ngoài (các thông tin phản hồi từ phía học sinh), nhờ chúng giáo viên khẳng định những kết quả đạt được, điều chỉnh, bổ sung, uốn nắn những tồn tại trong hoạt động nhận thức của học sinh, tổ chức, hướng dẫn, điều khiển hoạt động nhận thức của họ theo đúng quỹ đạo, hướng tới mục đích đã định. Cũng 15 qua đó, giáo viên có thể kịp thời điều chỉnh hoạt động giảng dạy của mình. Học sinh cũng thu được các thông tin phản hồi từ kết quả đánh giá, họ xử lí thông tin ngược thu nhận được nhằm tự phát hiện, tự đánh giá, tự điều chỉnh hoạt động nhận thức. Vì vậy, có thể nói bản chất của việc đánh giá là thực hiện các mối liên hệ ngược trong quá trình dạy học để từ đó người đánh giá (giáo viên hoặc học sinh) và người được đánh giá (học sinh) điều chỉnh và tự điều chỉnh quá trình dạy và học để đạt được mục đích đề ra.
Kết quả đánh giá là bằng chứng sự thành công của học sinh về kiến thức, kĩ năng, năng lực, thái độ đã được đặt ra trong mục tiêu giáo dục. Do đó, một trong những vấn đề quan tâm hàng đầu trong quá trình dạy học là kết quả học tập của học sinh. Trong phạm vi của khóa luận chỉ tập trung, quan tâm nghiên cứu đến vấn đề đánh giá kết quả học tập của học sinh trong dạy học. Kết quả học tập (còn gọi là thành tích học tập), thường được hiểu theo hai quan niệm khác nhau như sau: là mức độ thành tích mà người học đã đạt, được xem xét trong mối quan hệ với công sức, thời gian đã bỏ ra, với mục tiêu xác định; là mức độ thành tích mà người học đã đạt được so với những bạn học khác.
Cho dù hiểu theo cách nào thì kết quả học tập cũng đều thể hiện ở mức độ đạt được các mục tiêu dạy học, ở các phương diện: nhận thức, hành động, xúc cảm. Với từng môn học thì các mục tiêu trên được cụ thể hóa thành các mục tiêu về kiến thức, kĩ năng và thái độ. Vì vậy, có thể nói bản chất của việc đánh giá kết quả học tập của học sinh chính là việc xác định mức độ đạt được về kiến thức, kĩ năng và thái độ của người học so với mục tiêu dạy học.