Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động tự học của sinh viên trường đại học Chương 2: Thực trạng hoạt động tự học của sinh viên trường đại học công nghiệp thực phẩm TPHCM Chương 3: Biện pháp tổ chức hoạt động tự học của sinh viên trường đại học công nghiệp thực phẩm TPHCM Kết luận và khuyến nghị Tài liệu tham khảo Phụ lục Luan van 6 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC 1. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 1.1 Trên thế giới Học là một bộ phận trong quá trình dạy học, từ buổi sơ khai con người đã biết học tập thông qua việc truyền thụ kinh nghiệm của các thế hệ đi trước, khi xã hội ngày càng phát triển, sự truyền đạt này có những thay đổi theo phù hợp với xu thế phát triển của thời đại, sự phát triển đó kéo theo sự hình thành và phát triển các lý thuyết và triết lý giáo dục. Trong xu thế lấy người học làm trung tâm như hiện nay, bắt buộc người học phải nổ lực để chiếm lĩnh tri thức, mà yếu tố đòi hỏi là người học phải có phương pháp học tập phù hợp, phải tự giác, tự lực, năng động, sáng tạo, đây không phải là vấn đề mới được đề cập trong những năm gần đây, mà đã có trong các quan điểm của các nhà tư tưởng xa xưa. Trong thời Trung Hoa cổ đại, các nhà tư tưởng lớn đã có rất nhiều câu nói nổi tiếng về việc học, trong đó có đề cập đến tự học, Khổng Tử (552-479 TCN) có câu: “Học nhi bất tư tắc võng, tư nhi bất học tắc đãi” nghĩa là: Học mà không suy nghĩ thì hiểu biết hời hợt chỉ nghĩ (vẩn vơ) mà không chịu học thì đầu có trống rỗng mông lung.
[33-tr 43] Theo Gibbon: “Mỗi người đều phải nhận hai thứ giáo dục, một thứ do người khác truyền cho, một thứ quan trọng hơn do chính mình tạo lấy.” [25-tr 101] Theo Socrates (476 – 399 TCN) Giáo dục là làm cho con người tìm thấy chính mình. Để người học khám phá bản thân mình ông cho rằng mục đích của giáo dục không phải là tách con người ra khỏi đám đông, càng không phải là làm cho con người ấy mất hút trong đám đông, mục đích của giáo dục là làm cho con người nhận ra mình giữa đám đông. Phương pháp giảng dạy của ông là hai hay nhiều người thảo luận để tìm ra sự thật, ông luôn luôn tìm hiểu cái yếu kém, cái ngu dốt, cái nhầm lẫn để tiến bộ. [18] Luan van 7 Plato (427 – 347 TCN) tin tưởng rằng một chính quyền tốt đẹp chỉ có thể đến từ một xã hội có giáo dục.
[18] Nhà triết học người Pháp Montaigne (1533 – 1592) khuyến cáo dạy cho học sinh biết quan sát, biết ngắm nhìn sự vật hơn là ghi nhớ những từ. [18] Đến thế kỷ XVII, J.Coomenxki (1592-1670) đã tìm ra phương pháp cho phép giảng viên giảng ít hơn, học sinh học nhiều hơn, ông đề ra một số nguyên tắc dạy học mà cho đến nay vẫn còn nguyên tác dụng phát huy tính tích cực học tập của học sinh đó là: Nguyên tắc đảm bảo tính trực quan trong dạy học, nguyên tắc đi từ cái chung đến cái riêng, nguyên tắc tôn trọng đặc điểm đối tượng. [18] Triết gia người Pháp Rousseau (1712 – 1778) cho rằng thực tiễn cuộc sống đem lại những kinh nghiệm là người thầy giáo tốt nhất được thể hiện trong tác phẩm Emile xuất bản năm 1762, Emile cũng là tên nhân vật chính trong tác phẩm đã học tập được nhiều từ những hoạt động trong cuộc sống hơn là chỉ học trong sách vở. Chủ đích giáo dục tổng quát của Rousseau ở đây là trình bày một đường lối giáo dục tự nhiên, quan tâm đến cá nhân học sinh mà ngày nay trở thành phương pháp giáo dục “lấy học sinh làm trung tâm”.
[18] Nhà giáo dục người Đức Basedow (1723 – 1790) có khuynh hướng giảng dạy tích cực, chủ trương chấm dứt lối học vẹt, lối học thuộc lòng. [18] Sang thế kỷ XIX quan điểm lấy người học làm trung tâm phát triển. Các nhà giáo dục như: Nhà giáo dục Thụy Sĩ Johann Heinrich Pestalozzi (1746 – 1827) với quan điểm giáo dục hiện đại, ông quan tâm đến tâm lý học sinh, giáo dục các môn học thực dụng. Tác phẩm “How Gertrude Teachers Her Children” ông nhấn mạnh đến quan điểm lấy người học làm trung tâm.
Theo ông giáo dục là sự phát triển của “trí tuệ, tâm hồn và thể chất”. [18] Theo nhà giáo dục người Đức Friedrich Froebel (1782 – 1852) giáo dục có hai ý nghĩa: giáo viên có nhiệm vụ giúp đỡ học sinh vượt qua các khó khăn để có thể tự phát triển, tự sinh hoạt; mặc khác giáo viên cũng có nhiệm vụ sửa chữa những sai lầm của học sinh. [18] Conxtantin Đmitrêvic Usinxki (1824 – 1870) đã nghiên cứu về tính tích cực, tính độc lập của học sinh. Theo ông tính tích cực, tính độc lập là cơ sở duy nhất để cho sự Luan van 8 học có hiệu quả.
Ông cho rằng cần giáo dục cho học sinh biết định hướng trong môi trường xung quanh, biết hành động một cách sáng tạo, biết tự mình nâng cao vốn học vấn và tự phát triển bản thân. Trong dạy học không nên dồn tất cả tính tích cực vào công tác dạy của người giáo viên, còn học sinh thì lại thụ động mà cần phải làm sao cho học sinh tích cực ở mức độ cao nhất. [22] Quan điểm giáo dục tích cực của John Dewey (1859-1952) một triết gia và nhà giáo dục Mỹ, ông cho rằng học sinh sẽ học hỏi được nhiều khi các em học những gì các em thấy, các em trực tiếp tiếp xúc, học sinh được di chuyển quanh lớp học, bàn luận với bạn bè, được đặt câu hỏi với giảng viên, giảng viên phải hướng dẫn học sinh tìm tòi những tài liệu khác ngoài nhà trường,… học không chỉ ở học đường mà còn ở phòng đọc sách, vườn cây, xưởng, phòng khoa học, phòng thể dục… [18] Phương pháp Montessori do bà Maria Montessori (1870 - 1952) chú trọng việc phát triển thái độ chủ động, tự chủ cá nhân, áp dụng cho trẻ từ 3 đến 6 tuổi nhằm phát triển óc tò mò, phát triển thái độ hành động chính xác, phát triển những thói quen tốt trong việc tiếp nhận kiến thức. [18] Sang thế kỷ XX giáo dục tiếp tục phát triển những thành tựu về lý luận dạy học của nhà nước Xô Viết ra đời gắn liền với tên tuổi của một số nhà giáo dục học nổi tiếng như: V.
Các tác giả đã vạch rõ sự khác biệt giữa dạy học ở bậc đại học với dạy học ở phổ thông, các tác giả cho rằng dạy học ở đại học không phải chỉ trả lời câu hỏi dạy như thế nào? Mà còn phải trả lời câu hỏi: Sinh viên độc lập học tập như thế nào? Sinh viên độc lập nghiên cứu khoa học ra sao? Sinh viên tìm tòi sáng tạo như thế nào? Có thể nói ngay từ đầu thế kỷ XX vấn đề tự học ở bậc đại học đã được rất nhiều tác giả quan tâm dưới góc độ phương pháp dạy và phương pháp học. Kharlamop đã nghiên cứu tự học dưới góc độ tìm ra những biện pháp để phát huy tính tích cực học tập của học sinh bằng cách: Tăng cường việc nghiên cứu làm việc với sách giáo khoa, với tài liệu học tập, dạy học nêu vấn đề, cải tiến công tác tự lực học tập, đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá… [22] I.Babanxki đã nghiên cứu tự học gắn liền với việc tìm ra biện pháp tối ưu hóa việc học theo hai hướng: Phát huy tính tích cực, tính tự giác của học sinh trong học tập Luan van 9 dưới sự hướng dẫn, điều khiển trực tiếp của thầy, kết hợp với quản lý và tự quản lý hoạt động học tập của học sinh. [22] Cuối thế kỷ XX ảnh hưởng của sự phát triển khoa học kỹ thuật, đặc biệt là ảnh hưởng của cuộc cách mạng công nghệ, phần lớn các nhà giáo dục đã nghiên cứu tự học theo hai hướng chính: Hướng thứ nhất là nghiên cứu áp dụng công nghệ dạy học, nhằm thay đổi vị trí của thầy và trò trong quá trình dạy học, từ chuyên gia về việc dạy, giáo viên phải chuyển sang chuyên gia về việc học của người học; hướng thứ hai là dạy học phân hóa, dạy học tiến hành theo nhịp độ cá nhân người học để đạt tới năng suất và hiệu quả cao nhất trong việc học, dạy học cần phải được tổ chức hướng vào người học. Tiêu biểu cho hướng nghiên cứu trên là Raja Roy Singh, ông đã nghiên cứu vai trò của năng lực tự học trong việc học tập thường xuyên và học tập suốt đời, đề cao vai trò chuyên gia cố vấn của người thầy trong việc học tập thường xuyên, học tập suốt đời, trong việc hình thành và phát triển năng lực tự học của người học.
[22] Sang thế kỷ XXI, ngành giáo dục đứng trước những thách thức lớn chưa từng có, đòi hỏi giáo dục con người đủ khả năng đáp ứng được những thách thức trong thế kỷ mới. Các môn học “thế kỉ 21” đã được Khôpmen dự đoán trong quyển „Tương lai của ngành giáo dục” gồm sáu nội dung chính: tiếp cận và sử dụng tin học, bồi dưỡng tư tư duy mạch lạc (bao gồm phân biệt được ngữ nghĩa học, lôgic học, số học, soạn thảo trên máy tính, phương pháp dự đoán, tính sáng tạo tư duy), bồi dưỡng những kỹ năng thông đại hiệu quả (bao gồm diễn thuyết trước đông người, ngữ pháp, tu từ, hội hoạ, nhiếp ảnh, quay phim, vẽ đồ án…), tìm hiểu con người và môi trường sống (gồm các môn vật lý, hoá lý, hoá học, thiên văn học, địa chất và địa lý học, tiến hoá luận, dân số…), tìm hiểu con người và xã hội (gồm luật tiến hoá của nhân loại, sinh lý học, ngôn ngữ học, văn hoá nhân loại học, tâm lý học xã hội, chủng tộc học, pháp luật, hình thái biến đổi ngành nghề, vấn đề tồn tại và tiếp diễn của loài người …), năng lức cá nhân (gồm sự cân bằng sinh lý, huấn luyện mưu sinh và tự vệ, an toàn, dinh dưỡng, vệ sinh, giới tính, tiêu dùng và tài sản của cấ nhân, phương thức học tập tối ưu và sách lược, nghệ thuột nhớ, động cơ tự thân và nhận thức tự thân …) [5] Qua đó cho thấy tầm quan trọng của chiến lược học tập hay tự học trong quá trình học tập của mỗi người, nó quyết định sự thành công trong cuộc sống.