Luận án tiến sĩ: Đo lường và đánh giá mức độ sẵn sàng học tập tự định hướng của sinh viên Việt Nam

Luận án tiến sĩ nghiên cứu đo lường và đánh giá mức độ sẵn sàng học tập tự định hướng của sinh viên Việt Nam, cung cấp góc nhìn chuyên sâu về giáo dục.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2023

229
6
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. PHẦN MỞ ĐẦU

1.1. Lý do chọn đề tài

1.2. Mục đích nghiên cứu

1.3. Nhiệm vụ nghiên cứu

1.4. Đối tượng và khách thể

1.5. Câu hỏi nghiên cứu

1.6. Phương pháp nghiên cứu

1.6.1. Nghiên cứu định lượng

1.6.2. Nghiên cứu định tính

1.7. Phạm vi và thời gian nghiên cứu

1.7.1. Giới hạn nội dung và phạm vi nghiên cứu

2. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN

2.1. Học tập tự định hướng

2.2. Tổng quan nghiên cứu về đánh giá mức độ sẵn sàng học tập tự định hướng

2.3. Một số lý thuyết về học tập và học tập tự định hướng

2.4. Lý luận đánh giá mức độ sẵn sàng học tập tự định hướng

2.5. Tiểu kết chương 1

3. THIẾT KẾ VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU

3.1. Thiết kế nghiên cứu

3.1.1. Cơ sở thiết kế nghiên cứu

3.1.2. Thiết kế nghiên cứu của luận án

3.2. Quy trình nghiên cứu

3.3. Tổ chức nghiên cứu

3.3.1. Xây dựng và đánh giá tính chuẩn của công cụ nghiên cứu

3.3.2. Xác định và chọn mẫu nghiên cứu

3.3.3. Thu thập mẫu nghiên cứu

3.3.4. Phân tích dữ liệu

3.3.5. Tổng hợp dữ liệu định lượng và định tính

3.4. Đạo đức trong nghiên cứu

3.5. Tiểu kết chương 2

4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. Xác định yếu tố đo lường mức độ sẵn sàng học tập tự định hướng

4.1.1. Xác định các yếu tố đo lường mức độ sẵn sàng học tập tự định hướng

4.1.2. Xác định điểm đánh giá dựa trên các nhân tố đo lường mức độ sẵn sàng học tập tự định hướng

4.2. Mức độ sẵn sàng học tập tự định hướng của sinh viên

4.3. So sánh sự khác biệt mức độ sẵn sàng học tập tự định hướng giữa các nhóm sinh viên

4.3.1. Sự khác biệt theo giới tính

4.3.2. Sự khác biệt theo khối ngành

4.3.3. Sự khác biệt theo năm học

4.4. Mối quan hệ giữa mức độ sẵn sàng học tập tự định hướng và kết quả học tập

4.4.1. Mối tương quan giữa điểm đánh giá mức độ sẵn sàng học tập tự định hướng và điểm trung bình chung tích lũy

4.4.2. Mức độ ảnh hưởng của sẵn sàng học tập tự định hướng đến kết quả học tập

4.5. Kết quả nghiên cứu định tính bổ sung về mức độ sẵn sàng học tập tự định hướng của sinh viên

4.5.1. Về thái độ và động cơ học tập

4.5.2. Về năng lực học tập của sinh viên

4.5.3. Nhận thức về học tập tự định hướng

4.5.4. Những hình thức dạy và học đang triển khai tại các cơ sở giáo dục

4.5.5. Những gợi ý của giảng viên để thúc đẩy học tập tự định hướng của sinh viên

4.5.6. So sánh kết quả nghiên cứu với các nghiên cứu có liên quan

4.5.6.1. Các yếu tố đo lường mức độ sẵn sàng học tập tự định hướng
4.5.6.2. Mức độ sẵn sàng học tập tự định hướng của sinh viên
4.5.6.3. So sánh sự khác biệt theo các nhóm sinh viên
4.5.6.4. Mối quan hệ giữa mức độ sẵn sàng học tập tự định hướng và kết quả học tập

4.6. Tiểu kết chương 3

5. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

5.1. Đối với các cơ sở giáo dục đại học

5.2. Đối với các nhà thiết kế và xây dựng chương trình

5.3. Đối với giảng viên

5.4. Đối với sinh viên

5.5. Hạn chế của nghiên cứu

5.6. Đề xuất các hướng nghiên cứu tiếp theo

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Sẵn sàng học tập và tự định hướng

Sẵn sàng học tậptự định hướng là hai khái niệm trọng tâm trong nghiên cứu này. Sẵn sàng học tập đề cập đến khả năng và thái độ của sinh viên trong việc tiếp nhận kiến thức mới, trong khi tự định hướng nhấn mạnh sự chủ động của sinh viên trong việc xác định mục tiêu và phương pháp học tập. Nghiên cứu chỉ ra rằng, sinh viên Việt Nam cần phát triển kỹ năng này để thích ứng với môi trường giáo dục hiện đại. Học tập tự định hướng không chỉ giúp sinh viên nâng cao hiệu quả học tập mà còn thúc đẩy sự phát triển cá nhân. Đây là yếu tố quan trọng trong giáo dục đại học, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập quốc tế và cách mạng công nghiệp 4.0.

1.1. Khái niệm và tầm quan trọng

Sẵn sàng học tập tự định hướng được định nghĩa là khả năng của sinh viên trong việc tự chủ và chủ động trong quá trình học tập. Nghiên cứu nhấn mạnh rằng, học tập tự định hướng không chỉ là phương pháp học mà còn là công cụ giúp sinh viên phát triển kỹ năng tự học và khả năng thích ứng với môi trường làm việc sau này. Đối với sinh viên Việt Nam, việc phát triển kỹ năng này là cần thiết để đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động hiện đại.

1.2. Yếu tố ảnh hưởng

Các yếu tố ảnh hưởng đến sẵn sàng học tập tự định hướng bao gồm thái độ, động cơ học tập, năng lực tự học và đặc tính cá nhân của sinh viên. Nghiên cứu chỉ ra rằng, sinh viên Việt Nam cần được hỗ trợ để phát triển các kỹ năng này thông qua các chương trình đào tạo phù hợp. Giáo dục đại học cần tạo môi trường khuyến khích sinh viên chủ động trong học tập và phát triển kỹ năng tự định hướng.

II. Đánh giá học tập và mức độ sẵn sàng

Đánh giá học tập là quá trình đo lường và phân tích kết quả học tập của sinh viên. Trong nghiên cứu này, đánh giá mức độ sẵn sàng học tập tự định hướng được thực hiện thông qua các công cụ đo lường và phân tích dữ liệu. Kết quả nghiên cứu cho thấy, sinh viên Việt Nam có mức độ sẵn sàng học tập tự định hướng ở mức trung bình, cần được cải thiện thông qua các chương trình đào tạo và hỗ trợ từ nhà trường. Luận án tiến sĩ này cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn để đánh giá và nâng cao mức độ sẵn sàng học tập tự định hướng của sinh viên.

2.1. Phương pháp đánh giá

Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp, kết hợp giữa nghiên cứu định lượng và định tính. Đánh giá học tập được thực hiện thông qua các bảng hỏi và phỏng vấn sâu. Kết quả cho thấy, sinh viên Việt Nam cần được hỗ trợ để phát triển kỹ năng tự học và nâng cao mức độ sẵn sàng học tập tự định hướng.

2.2. Kết quả đánh giá

Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, mức độ sẵn sàng học tập tự định hướng của sinh viên Việt Nam còn hạn chế. Cần có các biện pháp hỗ trợ từ nhà trường và giảng viên để nâng cao kỹ năng này. Luận án tiến sĩ này đưa ra các khuyến nghị cụ thể để cải thiện tình trạng trên.

III. Phát triển cá nhân và kỹ năng tự học

Phát triển cá nhânkỹ năng tự học là hai yếu tố quan trọng trong việc nâng cao mức độ sẵn sàng học tập tự định hướng của sinh viên. Nghiên cứu chỉ ra rằng, sinh viên Việt Nam cần được trang bị các kỹ năng này để thích ứng với môi trường học tập và làm việc hiện đại. Giáo dục đại học cần tạo điều kiện để sinh viên phát triển kỹ năng tự học và nâng cao khả năng tự định hướng trong học tập.

3.1. Kỹ năng tự học

Kỹ năng tự học là yếu tố then chốt trong học tập tự định hướng. Nghiên cứu chỉ ra rằng, sinh viên Việt Nam cần được hỗ trợ để phát triển kỹ năng này thông qua các chương trình đào tạo và hoạt động thực tiễn. Giáo dục đại học cần tạo môi trường khuyến khích sinh viên chủ động trong học tập và phát triển kỹ năng tự học.

3.2. Phát triển cá nhân

Phát triển cá nhân là quá trình giúp sinh viên nâng cao khả năng tự nhận thức và tự điều chỉnh trong học tập. Nghiên cứu nhấn mạnh rằng, sinh viên Việt Nam cần được hỗ trợ để phát triển các kỹ năng này thông qua các chương trình đào tạo và hoạt động thực tiễn. Giáo dục đại học cần tạo điều kiện để sinh viên phát triển kỹ năng tự học và nâng cao khả năng tự định hướng trong học tập.

13/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN Chương này sẽ trình bày về các cơ sở lý luận và tổng quan nghiên cứu về đánh giá mức độ sẵn sàng HTTĐH của sinh viên. Trong đó, nội dung đánh giá các nghiên cứu liên quan đến sẵn sàng HTTĐH đã xác định khoảng trống nghiên cứu. Đồng thời, các khái niệm và nội hàm về HTTĐH, sẵn sàng HTTĐH, các mô hình lý thuyết học tập của người lớn và các lý thuyết về HTTĐH được phân tích làm cơ sở để xác định các tiêu chí đánh giá mức độ sẵn sàng HTTĐH và xây dựng mô hình nghiên cứu của luận án.1 Học tập tự định hướng HTTĐH là cách tiếp cận mà người học được thúc đẩy trách nhiệm cá nhân, kiểm soát quá trình nhận thức (tự giám sát) và quản lý việc học tập (Garrison, 1992).

Khái niệm HTTĐH đã được Dewey và Lindeman đề cập từ những năm 1900-1930s (Ayyildiz & Tarhan, 2015) nhưng mãi sau này mới được nhắc đến trong nhiều tài liệu đặc biệt là lĩnh vực giáo dục đối với người lớn (Nordin & cộng sự, 2016). HTTĐH được tiếp cận theo các đặc điểm cá nhân trong học tập hoặc quá trình học tập, tập trung vào thuộc tính hoặc đặc điểm cá nhân của người học (Hiemstra, 2004; Oddi, 1987). Theo nghĩa này, HTTĐH đề cập đến hiệu quả bản thân của người học, động lực học tập, định hướng mục tiêu, chiến lược để đạt được mục tiêu và sự chuẩn bị sẵn sàng cho những thử thách mới (Garrison, 1997). Hay nói cách khác, HTTĐH là cách tiếp cận mà người học được thúc đẩy trách nhiệm cá nhân, kiểm soát quá trình nhận thức (tự giám sát) và quản lý việc học tập (tự quản lý) khi xây dựng mục tiêu học tập và xác nhận kết quả học tập (Garrison, 1992).

HTTĐH cũng được tiếp cận theo quá trình với việc người học có trách nhiệm lập kế hoạch, thực hiện và đánh giá việc học tập của chính họ, tuy nhiên, do những đặc điểm về tính cách cá nhân mà người học sẽ có những suy nghĩ và hành động riêng (Brockett & Hiemstra, 1991). Như vậy, HTTĐH chính là quá trình học tập mà các cá nhân chịu trách nhiệm chính và thể hiện các thuộc tính cá nhân trong quá trình đó (Brockett & Hiemstra, 1991; Caffarella & Baumgartner, 2007). HTTĐH cũng là dự án tự dạy học, trong đó, người học xác định mục đích học tập, đặt 9 ra các mục tiêu để đạt được mục đích đó (Tough, 1967). Knowles (1975), người đứng sau lý thuyết giáo dục cho người lớn (andragogy) đã đưa ra định nghĩa về HTTĐH như sau: “Theo nghĩa rộng nhất, HTTĐH là một quá trình mà các cá nhân chủ động, có hoặc không có sự giúp đỡ của người khác, trong việc chẩn đoán nhu cầu, xây dựng các mục tiêu học tập, xác định các nguồn lực phục vụ học tập, lựa chọn và thực hiện các chiến lược học tập thích hợp, và đánh giá kết quả học tập” (tr.

Trong định nghĩa của Knowles, HTTĐH được xem là một quá trình, trong đó người học chủ động, có động cơ học tập cao, chịu trách nhiệm chính trong việc lập kế hoạch, thực hiện và đánh giá những nỗ lực học tập của họ. Tuy nhiên, khái niệm này nhấn mạnh nhiều về năng lực tự chủ và tự học, trong khi bản chất của HTTĐH ngoài những đặc điểm trên còn thể hiện việc học tập diễn ra trong bối cảnh có sự tương tác giữa người học và các mối quan hệ trong quá trình học tập, đặc biệt là ở bối cảnh học tập tại các cơ sở giáo dục đại học. Trong luận án này, HTTĐH được hiểu là “quá trình sinh viên học tập có mục đích, chủ động quản lý, kiểm soát việc học tập, đáp ứng mục tiêu giáo dục và sự phát triển của bản thân”. Trong đó, sự chủ động trong HTTĐH được thể hiện ở việc người học nhận thức rõ mục đích học tập và thực hiện các nhiệm vụ nhằm đáp ứng mục tiêu giáo dục và sự phát triển của người học.

Quản lý học tập được diễn ra trong quá trình học tập và được thể hiện thông qua những năng lực cá nhân sẵn có của sinh viên trong việc xác định nhu cầu học tập, xây dựng kế hoạch, đảm bảo các nguồn lực cho việc học tập, quyết định nội dung cần thiết cho việc học, và thực hiện các nhiệm vụ, hoạt động học tập. Kiểm soát học tập được nhìn nhận ở sự giám sát, đánh giá và điều chỉnh việc thực hiện các nhiệm vụ học tập theo kế hoạch và nhiệm vụ học tập hoặc nhu cầu tìm hiểu kiến thức để thúc đẩy bản thân tham gia vào quá trình học tập một cách tích cực.2 Sẵn sàng học tập tự định hướng “Sẵn sàng HTTĐH” là “mức độ mà cá nhân thể hiện về kỹ năng và thái độ của bản thân gắn với tự định hướng trong học tập” (Brockett & Hiemstra, 1991) (tr. Hay nói cách khác là “mức độ mà một cá nhân thể hiện thái độ, năng lực và đặc tính hay giá trị cá nhân trong HTTĐH” (Wiley, 1983) (tr. Sẵn sàng HTTĐH là sự chuẩn bị đầy đủ cho HTTĐH, thể hiện mức độ kiểm soát quá trình học tập của sinh 10 viên phụ thuộc vào thái độ, năng lực và đặc tính cá nhân của họ (Fisher & cộng sự, 2001).

Sẵn sàng HTTĐH thể hiện tính cá nhân hóa cao thông qua thái độ, khả năng và giá trị, tính cách cá nhân trong HTTĐH, được chứng minh thông qua thái độ, năng lực của bản thân (Grow, 1991). Người học vốn có khả năng tự định hướng, tức là sẵn sàng HTTĐH diễn ra liên tục và mỗi cá nhân đều thể hiện HTTĐH ở mức độ nhất định (Grow, 1991). Bởi, các năng lực cần thiết để tự định hướng có thể được phát triển ở một mức độ nào đó và được thể hiện ở sự tự chủ (Candy, 1991; Guglielmino, 1989). Sẵn sàng HTTĐH được đặt trong bối cảnh HTTĐH sẽ là phù hợp nhất (Adenuga, 1989).

Một người sẵn sàng cho HTTĐH sẽ có tâm thế sẵn sàng và các kỹ năng để tham gia vào các hoạt động HTTĐH (Guglielmino, 1977). - Thái độ: là trạng thái tinh thần được biểu hiện ra bên ngoài đối với việc tiếp thu kiến thức nào đó (Nguyễn Thị Chi & cộng sự, 2010). Nói cách khác, thái độ học tập chính là trạng thái người học biểu hiện ra ngoài bằng những xúc cảm và hành vi trong quá trình học tập (Ajzen, 1987; Loftin & cộng sự, 2005). Thái độ học tập của các chủ thể khác nhau được thúc đẩy bằng động cơ học tập khác nhau.

Trong giáo dục đại học, động cơ học tập là một hệ thống các yếu tố vừa có tính chất định hướng, vừa có chức năng kích thích, thúc đẩy và duy trì hoạt động học tập (Dương Thị Kim Oanh, 2013). Cũng theo Dương Thị Kim Oanh (2013), động cơ học tập là yếu tố tâm lý phản ánh đối tượng có khả năng thỏa mãn nhu cầu của người học, định hướng, thúc đẩy và duy trì hoạt động học tập của người học nhằm chiếm lĩnh đối tượng đó. Động cơ bên trong (nội lực hay động lực bên trong) là động cơ xuất phát từ nhu cầu, sự hiểu biết, niềm tin của người học, là mong muốn khao khát chiếm lĩnh, mở rộng tri thức, say mê với việc học tập (Nguyễn Đình Thọ & Nguyễn Thị Mai Trang, 2009). Loại động cơ này giúp người học luôn nỗ lực ý chí, giúp sinh viên duy trì hứng thú và ham muốn học hỏi, tìm tòi, vượt qua khó khăn để đạt được mục tiêu trong học tập.

Động cơ bên ngoài những tác động từ bên ngoài lên hoạt động học tập của sinh viên như đáp ứng mong đợi của gia đình, sự hiếu danh, sự tán thưởng của bạn bè, sự thu hút vào bài giảng của giảng viên. Tuy động cơ này mang tính tiêu cực nhưng nó cũng góp phần vào việc kích thích, tạo hứng thú và nhu cầu cho người học tiếp thu tri thức, kỹ năng trong quá trình học tập. Các động cơ này giúp cân bằng giữa kiểm soát hoặc bối cảnh học tập và nhận thức hoặc trách nhiệm trong quá trình học tập (Ryan & Deci, 2000). 11 Trong HTTĐH, người học phải có động cơ cao để sẵn sàng trải qua quá trình học tập.

Bởi, động cơ học tập đảm bảo sự cam kết HTTĐH của họ. Việc thiếu động cơ sẽ cản trở quá trình học tập và khiến người học không sẵn sàng cho quá trình này (Garrison, 1997; Grow, 1991). - Năng lực: Năng lực nói chung là khả năng làm chủ những hệ thống kiến thức, kỹ năng, thái độ và vận hành chúng một cách hợp lý vào thực hiện thành công nhiệm vụ hoặc giải quyết hiệu quả vấn đề đặt ra của cuộc sống (Nguyễn Công Khanh, 2014). Bản chất của năng lực học tập là phát triển và được thể hiện ở các khía cạnh: 1) Hiểu: nắm bắt tri thức và các phương thức để thu được tri thức ấy); 2) Làm: có các kĩ năng, kĩ xảo để hiện thực hóa các phương thức hoạt động nói trên ở bản thân; 3) Cảm: đó là những biểu cảm, thể hiện cảm xúc và giá trị (Đặng Thành Hưng, 2012).

Năng lực HTTĐH được thể hiện đặc biệt ở khả năng/ năng lực quản lý, kiểm soát và ứng dụng-phát triển trong thực tiễn. Các năng lực cần thiết để tự định hướng có thể được phát triển ở một mức độ nào đó. Một người sẵn sàng HTTĐH sẽ có sự sẵn sàng và các kỹ năng để tham gia các hoạt động HTTĐH (Guglielmino, 1977). Năng lực HTTĐH đối với sinh viên là cách học thể hiện qua thái độ và hành vi (Honey & Mumford, 1992).

Trong HTTĐH, người học sẵn sàng học tập khi họ có khả năng tự quản lý hiệu quả. Tự quản lý liên quan đến các vấn đề kiểm soát nhiệm vụ, tập trung vào các khía cạnh xã hội và hành vi của người học nhằm đáp ứng các chương trình HTTĐH (Garrison, 1997). Việc kiểm soát học tập của người học tăng sẽ dẫn đến trách nhiệm học tập của họ được nâng cao, xây dựng cơ sở vững chắc cho người học theo đuổi việc HTTĐH (Garrison, 1992). Sự sẵn sàng cũng ảnh hưởng bởi cách người học giám sát các hoạt động.

Đối với người học, tự giám sát rất quan trọng để HTTĐH tốt hơn. Thông qua việc giám sát, có thể sửa đổi tư duy theo hướng phù hợp với mục tiêu hoặc nhiệm vụ học tập (Loftin & cộng sự, 2005). - Đặc tính/giá trị cá nhân: Quá trình phát triển HTTĐH có liên quan đến đặc tính cá nhân trong học tập của người học (Roberson Jr & Merriam, 2005). Đặc tính cá nhân trong HTTĐH được thể hiện ở những giá trị cá nhân và biểu hiện tự chủ trong học tập.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ "Đánh giá mức độ sẵn sàng học tập tự định hướng của sinh viên Việt Nam" tập trung phân tích khả năng tự học, tự định hướng của sinh viên trong bối cảnh giáo dục hiện đại. Nghiên cứu này không chỉ đánh giá thực trạng mà còn đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao năng lực tự học, giúp sinh viên chủ động hơn trong quá trình tiếp thu kiến thức. Đây là tài liệu hữu ích cho các nhà quản lý giáo dục, giảng viên và sinh viên muốn cải thiện phương pháp học tập hiệu quả.

Để mở rộng hiểu biết về các vấn đề liên quan, bạn có thể tham khảo Luận án tiến sĩ quản lý công thực hiện tự chủ về tổ chức của trường đại học công lập ở Việt Nam, nghiên cứu này cung cấp góc nhìn về tự chủ trong giáo dục đại học. Ngoài ra, Khóa luận tốt nghiệp về các yếu tố ảnh hưởng đến động lực học kỹ năng nói của sinh viên sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về động lực học tập, một yếu tố quan trọng trong quá trình tự định hướng. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ quản lý phát triển môi trường giáo dục đa văn hóa mang đến góc nhìn về môi trường giáo dục, yếu tố ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng tự học của sinh viên.

Hãy khám phá các tài liệu này để có cái nhìn toàn diện hơn về chủ đề giáo dục và tự định hướng học tập!