Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN MÔI TRƯỜNG GIÁO DỤC ĐA VĂN HÓA Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu Môi trường luôn có ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển mọi mặt của con người. Những ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp, trước mắt hay lâu dài của môi trường đến cuộc sống con người đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học. Ảnh hưởng của môi trường đến năng suất lao động được các nhà tâm lý học lao động nghiên cứu tập trung vào môi trường vi mô, những điều kiện như: nhiệt độ, màu sắc, âm thanh, khung cảnh, mối quan hệ liên nhân cách của nhóm nhỏ; những yếu tố điều kiện, hoàn cảnh trên đây tác động mạnh đến chất lượng công việc.
Điều đó giúp cho việc thiết kế môi trường vi mô, tổ chức quản lý sản xuất để đạt được năng suất cao nhất. Các công trình nghiên cứu trên thế giới Ảnh hưởng của môi trường đến sự phát triển nhân cách con người được các nhà Giáo dục học quan tâm từ lâu. Mỗi dân tộc trên thế giới không chỉ khác nhau về lãnh thổ, về thể chế nhà nước, trình độ sản xuất, khoa học kỹ thuật. mà còn khác nhau chủ yếu ở những giá trị văn hóa.
Trong thời đại toàn cầu hóa và CNH-HĐH, những nước phát triển hết sức quan tâm đến việc giáo dục giá trị bản sắc văn hóa và đa văn hóa cho người học, đặc biệt là thế hệ trẻ. Khái niệm giáo dục đa văn hóa xuất hiện sớm nhất ở Hoa Kỳ từ năm 1960 cùng với phong trào đấu tranh cho quyền công dân. Sau đó khái niệm này được hiểu theo quan điểm toàn cầu. Suốt mấy thập niên qua, nhiều tác giả các nhà nghiên cứu, tổ chức giáo dục đã đưa ra nhiều định nghĩa về giáo dục đa văn hóa.
Có thể kể đến một số nghiên cứu dưới đây: Đa văn hóa là một hiện tượng xã hội có từ thuở xa xưa. Khi có các nền văn hóa tiếp xúc và tiếp biến với nhau thì sẽ xảy ra hiện tượng đa văn hóa. Nhưng đa văn hóa trở thành một lý thuyết, thậm chí một cương lĩnh cho hành động thì phải đến xã hội hiện nay của chúng ta. Trước hết nó bắt nguồn từ xã hội đa văn hóa của Bắc Mỹ (Hoa Kỳ và Canada) giữa những năm 60 TK XX.
Vào thời đó, nhằm đem lại một giải Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 5http://www.vn Luận văn thạc sĩ Khoa học giáo dục pháp cho các xung đột ngôn ngữ Pháp - Anh, các giới cầm quyền liên bang ở Ottawa công khai nói lên ý định thừa nhận bản chất đa văn hóa của xã hội Canada. Cương lĩnh ấy đã được Pierre Eliiot Trudeau (thủ tướng Canada hồi đó) theo đuổi trong những năm 70 TK XX, cuối cùng đã mang một chiều kích hiến pháp năm 1982. Cùng lúc đó, ở Hoa Kỳ, trong sự nối dài những cuộc đấu tranh của người da đen vì các quyền công dân của họ, ý tưởng cho rằng các thiểu số ngôn ngữ, tộc người, tôn giáo, thậm chí tình dục, là nạn nhân của một sự bất công chừng nào văn hóa của họ chưa đạt tới trình độ được thừa nhận ngang với văn hóa của đa số da trắng, nói tiếng Anh và theo đạo Tin lành, đã được phát triển trong các giới trí thức và đấu tranh. Giành cho được sự thừa nhận ấy, điều chỉnh những bất công và định ra những phương tiện để cho những văn hóa khác nhau ấy cùng tồn tại, đó là những lý tưởng chính thức đẩy lý thuyết đa văn hóa, hiểu theo nghĩa một học thuyết, vượt khỏi trường hợp riêng của Bắc Mỹ.
Banks và Cherry A. McGee Banks (1995) thể hiện sự quan tâm đến sinh viên từ nhiều nhóm chủng tộc, giai cấp trong một quốc gia qua định nghĩa “giáo dục đa văn hóa là một lĩnh vực nghiên cứu, một nguyên tắt mới xuất hiện nhằm mục tiêu chủ yếu là tạo những cơ hội giáo dục bình đẳng cho những sinh viên từ những nhóm chủng tộc, giai cấp, văn hóa khác nhau. Một trong những mục tiêu quan trọng của giáo dục đa văn hóa là giúp mọi sinh viên đạt được kiến thức, thái độ, kỹ năng cần thiết để hoạt động hiệu quả trong một xã hội dân chủ và tương tác, thỏa thuận giao tiếp với những người từ những nhóm khác để tạo ra một cộng đồng dân sự đạo đức, làm việc cho lợi ích chung” [33]. James Bank cùng là một trong những học giả đầu tiên xem nhà trường là hệ thống xã hội từ bối cảnh đa văn hóa, chủ trương tạo ra một môi trường đa văn hóa một cách triệt để ở mọi khía cạnh.
Dần dần, người ta bắt đầu chú ý đến năng lực liên văn hóa và nhận thức về xã hội và toàn cầu, nhằm đào tạo con người có thể thể thích ứng tham gia vào xã hội đa dạng về văn hóa, chủng tộc, tôn giáo.Đến thập niên cuối thế kỷ XX, các học giả về giáo dục đa văn hóa tiếp tục nhấn mạnh đến công bằng xã hội tiếp tục nhấn mạnh đến công bằng xã hội và cơ hội bình đẳng dựa trên khung đa văn hóa, giảm thiểu phân biệt chủng tộc. Khái niệm giáo dục đa văn hóa tiếp tục thay đổi để trở nên thích ứng với nhu câu xã hội liên tục thay đổi. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 6http://www.vn Luận văn thạc sĩ Khoa học giáo dục Trong giáo dục, cụ thể là giáo dục đại học, Gloria M.Ameny – Dixon (2004) giải thích “giáo dục đa văn hóa hiện nay được hiểu là phương thức giáo dục hay giảng dạy và học tập dựa trên những giá trị dân chủ khẳng định sự đa dạng các nền văn hóa trong các xã hội đa văn hóa trong một thế giới phụ thuộc lẫn nhau”. [19] Một số công trình nghiên cứu ở Mỹ của Cross, Bazon, Dennis và Isaac (1989) tìm hiểu về năng lực văn hóa để nhằm khuyến khích sự hiểu biết về văn hoá, sự trao đổi về ngôn ngữ, sự phối hợp giữa các gia đình, các nhà chuyên môn, học sinh và cộng đồng.
Sự phối hợp phải nâng cao kết quả học tập một cách bình đẳng cho tất cả học sinh và đem lại sự gắn bó chặt chẽ, sự cung cấp các dịch vụ để thích ứng với các vấn đề về chủng tộc, văn hoá, giới, địa vị, kinh tế và xã hội. [11] Năng lực văn hoá được coi là toàn bộ các hành vi, quan điểm và hành động đồng dạng trong cùng một hệ thống, tổ chức, hay giữa các nhà chuyên môn và giúp cho hệ thống, tổ chức hay nhóm nghề nghiệp đó hoạt động một cách có hiệu quả trong một môi trường đa văn hoá. [11] Về mặt hoạt động, năng lực văn hoá là sự hoà nhập và thay đổi sự hiểu biết về các cá nhân và nhóm các cá nhân dưới các chuẩn mực, hoạt động, nghiệp vụ và quan điểm rõ ràng trong các bối cảnh văn hoá phù hợp để tăng chất lượng dịch vụ đem lại kết quả tốt hơn. - Các thành phần của năng lực văn hóa: Có năm yếu tố cần thiết tạo nên năng lực văn hoá gồm có: 1) Sự đa dạng về giá trị.
2) Khả năng tự đánh giá về văn hoá. 3) Ý thức được về sự năng động cố hữu khi các nền văn hoá tương tác với nhau. 4) Thể chế hoá kiến thức về văn hoá. 5) Hình thành khả năng thích nghi của các thành viên khi tham gia các hoạt động nhằm tăng sự hiểu biết về tính đa dạng giữa các nền văn hoá và trong cùng một nền văn hoá.
Ngoài ra, năm yếu tố này phải được thể hiện trong nhận thức và hành vi của từng thành viên. - Quá trình hình thành năng lực văn hóa: Năng lực văn hoá là một quá trình phát triển diễn ra theo một chuỗi liên tục. Có 6 khả năng, khi cái này kết thúc thì cái khác bắt đầu: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 7http://www.vn Luận văn thạc sĩ Khoa học giáo dục (1) Sự phá hoại về văn hoá; (2) Không có khả năng hiểu biết về văn hoá; (3) Sự không hiểu biết về văn hoá; (4) Hiểu biết ban đầu về văn hoá; (5) Hiểu biết về văn hóa và; (6) Sự hiểu biết sâu sắc về văn hoá. - Việc vận hành năng lực văn hoá trong các bối cảnh nhà trường được thể hiện qua 5 yếu tố tạo nên năng lực văn hoá.
Đa dạng giá trị có nghĩa là sự chấp nhận và tôn trọng sự khác biệt. Con người đến từ các nền văn hoá khác nhau, vì vậy phong tục, tư tưởng, cách giao tiếp, các giá trị, truyền thống và thể chế cũng khác nhau. Sự lựa chọn của cá nhân bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi văn hoá. Sự từng trải về văn hoá ảnh hưởng đến sự lựa chọn của họ từ hoạt động giải trí cho đến hoạt động chuyên môn.
Thậm chí, họ định nghĩa gia đình theo cách nào cũng bị văn hoá chi phối. Có một số yếu tố ảnh hưởng đến sự tương tác liên văn hóa, chẳng hạn một số thành kiến gắn với sự trải nghiệm về văn hóa có thể minh chứng cho một số quan điểm hiện nay. Trong số các nhóm người thì người gốc Mỹ và người Mỹ gốc Phi đã trải nghiệm sự phân biệt chủng tộc và đối xử không công bằng của những nhóm người chiếm ưu thế trong xã hội Mỹ. Những sự trải nghiệm này cùng với sự hoài nghi lớn lên từ phía họ và được chuyển lại cho các nhóm bị đàn áp theo dòng lịch sử và lại bị lãng quên bởi các nhóm có văn hóa nổi trội.
Thể chế hóa về kiến thức phát triển về văn hóa và các động cơ về văn hóa phải được hợp nhất trong mọi khía cạnh của một nhà trường. Nhân viên phải được tập huấn và áp dụng một cách hiệu quả các kiến thức học được. Các nhà quản lý tổ chức nên phát triển những cách cư xử để có thể thích ứng với sự đa dạng văn hóa. Các tài liệu chương trình phải phản ánh các mặt tích cực của tất cả mọi người và có thể sử dụng được với mỗi nhóm.
Kiến thức văn hóa được hội nhập một cách đầy đủ có lẽ tác động đến những thay đổi có tính toàn cầu trong việc đem lại các dịch vụ cho con người. Thích nghi với sự đa dạng tập trung chuyên biệt vào việc thay đổi các hoạt động cho phù hợp với các chuẩn văn hóa. Các thông lệ văn hóa có thể được sửa lại để phát triển các phương thức ứng xử mới. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 8http://www.vn Luận văn thạc sĩ Khoa học giáo dục 1.