Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến thực hiện tự chủ về tổ chức của trường đại học công lập ở Việt Nam. Chương 2: Những vấn đề lý luận trong thực hiện tự chủ về tổ chức của trường đại học công lập ở Việt Nam. Chương 3: Thực tiễn thực hiện tự chủ về tổ chức của trường đại học công lập ở Việt Nam. Chương 4: Giải pháp bảo đảm thực hiện tự chủ về tổ chức của trường đại học công lập ở Việt Nam.
8 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN THỰC HIỆN TỰ CHỦ VỀ TỔ CHỨC CỦA TRƢỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP Ở VIỆT NAM 1. Tình hình nghiên cứu ở nƣớc ngoài đối với những vấn đề lý luận trong thực hiện tự chủ về tổ chức của trƣờng đại học công lập 1. Đối với sách tham khảo * Shattock Michael, năm 2006, “Managing good governance in higher education, Open University Press, McGraw - Hill Education, United Kingdom (Quản trị giáo dục đại học hiệu quả): Đây là công trình nghiên cứu có giá trị về tổ chức của TĐH từ góc nhìn thiết chế. Ở nội dung chương 2 (Nguồn gốc và sự phát triển của quản trị đại học hiện đại), tác giả đã phân tích một số mô hình quản trị đại học, như Oxbridge, Scotland, Quản trị đại học công dân, Giáo dục Đại học Tập đoàn và Quản trị Đại học Hoa Kỳ.
Tác giả cũng đi sâu phân tích về vai trò của Hiệu trưởng và Phó hiệu trưởng đại học cùng trưởng đơn vị thuộc đại học. Tác giả cũng nêu lên vấn đề quản trị đại học và môi trường thay đổi. Tác giả quan tâm bàn về chiến lược của các đại học và Nhà nước. Cuốn sách bàn đến vấn đề quản trị đại học hiệu quả trong thực tiễn, như vấn đề bổ nhiệm Hiệu trưởng; giám sát quyền điều hành, vấn đề đánh giá hiệu quả và hiệu suất; vấn đề về xung đột lợi ích và áp lực thay đổi trong quản trị đại học.Rhodes, năm 2009, “Creation of the Future - Tạo dựng tương lai, vai trò của các viện đại học Hoa Kỳ”, Nhà xuất bản Văn hóa Sài Gòn: Cuốn sách phân tích nhiều nội dung liên quan đến công việc của một TĐH, như nội dung về Hội đồng trường (HĐT)/Hội đồng quản trị, trách nhiệm của HĐT là quản trị theo kiểu “nhúng mũi vào nhưng bỏ tay ra” [39, tr.
507] chứ không phải quản lý. Tác giả cũng phân tích rõ vai trò của HĐT nằm ở chức năng tuyển chọn, bổ nhiệm, đưa ra đánh giá và không ngừng hỗ trợ Hiệu trưởng quản lý, điều hành TĐHCL. Cuốn sách chỉ ra các thành tố căn bản làm nên mối quan hệ then chốt giữa HĐT và Hiệu trưởng. * Clark Kerr, năm 2013, “The uses of the university - Các công dụng của đại học”, Nhà xuất bản Tri thức.
Các nghiên cứu của tác giả về GDĐH Hoa Kỳ trước hết là “những thông tin, phân tích, đánh giá, khái quát hóa một cách chân thực, khoa học về sự thay đổi diện mạo của Đại học Hoa Kỳ qua những dấu mốc lịch sử” [23, tr. 9 Một nhận xét rất cần được quan tâm khai thác về công dụng của đại học khi nghiên cứu về quyền TCĐH, đó là đại học có tác dụng hữu hiệu cho xã hội hay phản hữu hiệu tùy theo cách sử dụng nó. Nó thay đổi căn bản xã hội nếu thực hiện được đầy đủ các chức năng hàn lâm bình thường của nó mà qua đó, nó đã có chỗ đứng ngàn năm. Nhưng mọi sự thao túng đại học vào mục tiêu chính trị sẽ thay đổi bản chất đại học xấu đi hơn là nó thay đổi tốt cho xã hội [23, tr.
“Hôm nay chúng ta đứng vững. Nhưng ngày mai khoa học sẽ tiến thêm một bước nữa và lúc đó, sẽ không thể có sự khẩn cầu xét lại một bản án được dành cho những kẻ không được giáo dục và Kerr khẳng định đó là công dụng của giáo dục” [23, tr. Trong cuốn sách, tác giả đã viện dẫn đến phát biểu của Kerr về TCĐH một cách ngắn gọn nhưng chứa đựng nhiều ý nghĩa: “Tôi không tin vào nguyên tắc rằng bởi vì có một thống đốc mới nên cần có một Chủ tịch đại học mới. Điều này không bao giờ xảy ra ở các đại học công tốt ở Hoa Kỳ.
Đó là khía cạnh tự chủ (của đại học). Đại học có thể phụng sự cho nhân loại tốt nhất khi được quản lý dài hạn bằng (nguyên tắc quyền) tự chủ” [23, tr. Đề cập quyền TCĐH, Kerr nhấn mạnh: “Một đại học được quản lý một phần dựa trên tự do. Một đại học không thể được quản lý như một Nhà nước cảnh sát” [23, tr.
Tiếp cận từ góc độ quản lý công về TCĐH cho thấy, những phân tích của Kerr về một số nhân sự đại học cực kỳ có giá trị tham khảo cho luận giải về thực hiện tự chủ tổ chức TĐHCL. Tác giả đã chính xác khi cho rằng, Viện trưởng đại học (mà ở Việt Nam là Hiệu trưởng) là nhân sự hoạt động ở vị trí vừa phải đối diện nhiều hướng cùng một lúc, vừa phải xoay xở để không “quay lưng” lại với bất cứ bên nào. Theo tư duy khoa học quản lý công, đây là một nhận xét khoa học tinh tế và quan trọng, điều mà nếu chỉ tiếp cận từ góc độ thể chế TĐH chưa chắc đã nhận diện rõ vấn đề. Trong bối cảnh thay đổi lớn của các TĐH ở Mỹ cũng như ở nhiều nước và ngay cả ở Việt Nam, tác giả đã rất có lý khi cho rằng, “Viện trưởng trở thành vị trung tâm hòa giải giữa các giá trị của quá khứ, các viễn cảnh của tương lai và những thực tế của hiện tại” [23, tr.
Từ những nghiên cứu về cuốn sách, có thể rút ra nhận xét quan trọng có giá trị tham chiếu đối với luận án, đó là những đánh giá chân thực, bản chất và khoa học về vị trí chủ chốt trong TĐH ở hai trong số những vị trí cốt lõi là Hiệu trưởng và giảng viên. Giảng viên là máy cái trong cỗ máy TĐH, Hiệu trưởng là máy trưởng để chỉ đạo vận hành cỗ 10 máy đó và vì vậy, trong điều kiện TCĐH, hai vị trí này nên được tiếp cận, phát triển và quản lý như thế nào để hiệu quả và chất lượng nhất? Đây là những luận giải có ý nghĩa cung cấp nguồn thông tin quý khi đề cập đến vấn đề giải pháp tăng cường nguồn lực của tổ chức TĐHCL trong điều kiện thực hiện tự chủ về tổ chức ở Việt Nam. * Iwinska Julia, Matei Liviu, năm 2014, University autonomy - A practical handbook, Central European University, Hungary (Cẩm nang Tự chủ đại học): Một trong những điểm nhấn quan trọng của cuốn sách tham khảo này là tìm câu trả lời cho câu hỏi lớn, các khía cạnh của TCĐH là gì? Cuốn sách cũng làm rõ mức độ tự chủ mà các TĐH được hưởng từ sự kiểm soát của Nhà nước, tác động đáng kể đến năng lực quản lý các chiến lược phát triển phức tạp, xác định các chính sách và sắp xếp tổ chức phù hợp với các đơn vị hỗ trợ cần thiết, nguồn nhân lực và tài chính. TĐH ngày càng được công nhận là động lực thúc đẩy cơ sở hạ tầng kinh tế và xã hội trong khu vực phát triển.
Nhận thức về cách các TĐH có thể đóng góp cho sự đổi mới của khu vực và sự phát triển kinh tế thông qua hợp tác với doanh nghiệp, chính quyền địa phương và các chủ thể khác tại địa phương (ESMU, 2010). Trong phần ba của cuốn sách, tác giả đề cập đến thực tiễn tự chủ với những ví dụ của các quốc gia và TĐH. Có thể nhận thấy phần này của cuốn sách cung cấp những kinh nghiệm tốt từ thực tế của các quốc gia. Cụ thể, khi đề cập đến tự chủ quyết định về quản trị nội bộ và cơ cấu tổ chức thì các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, cấu trúc quản trị và lãnh đạo của các TĐH chịu sự điều chỉnh của khung pháp luật quốc gia.
Trong hầu hết các trường hợp, khung cơ bản dành cho cho các cơ quan ra quyết định (cơ quan chủ quản chính trong một TĐH) được quy định trong các luật hoặc nghị định liên quan. Nhưng đồng thời các TĐH vẫn có thể có một số quyền tự chủ trong việc áp dụng khung pháp lý quốc gia, mà một trong số đó là tự chủ trong xây dựng và phát triển thể chế điều chỉnh nội bộ của TĐHCL. Một kinh nghiệm rất đáng chú ý từ nghiên cứu của công trình này liên quan đến vấn đề mô hình chủ yếu thiết lập quản trị đại học nội bộ trong các TĐH ở châu Âu. Chẳng hạn, 15 hệ thống (trong số 28) có một cơ cấu điều hành kép, thường bao gồm một cơ quan đại diện nội bộ (như Hội đồng khoa học) và một Hội đồng đại học (thiên về bên ngoài nhiều hơn).
Trong các mô hình quản trị kép, quyền và năng lực ra quyết định được phân chia giữa hai cơ quan. Các vấn đề học thuật thường thuộc về năng lực 11 của hội đồng khoa học, trong khi các vấn đề chiến lược liên quan đến Hội đồng đại học. Sự phân chia năng lực và thẩm quyền ra quyết định giữa hai loại cơ quan chủ quản có thể khác nhau đáng kể. Trong một số trường hợp, ví dụ như ở một số tiểu bang của Đức, hội đồng đại học (thiên về bên ngoài) chỉ có vai trò tư vấn, trong khi thẩm quyền ra quyết định chính thuộc về Hội đồng khoa học được bầu (nội bộ).
Một nội dung khác mang tính chất kinh nghiệm về tự chủ tổ chức cũng được đề cập trong cuốn sách này, đó là tự do xác định cấu trúc học thuật nội bộ (như các Khoa; Trung tâm). Các TĐH trong hầu hết các hệ thống GDĐH của châu Âu (trong 18 trên 28 phân tích) có thể tự do quyết định cấu trúc học thuật nội bộ của họ. Điều này liên quan đến việc thành lập, số lượng và tên của các đơn vị học thuật (ví dụ: các khoa, trường học, v. Khía cạnh tự chủ này cũng bao gồm sáp nhập hoặc đóng cửa các khoa học thuật nằm trong thẩm quyền tự chủ của TĐH trong hầu hết các trường hợp.
Một khía cạnh khác của kinh nghiệm quốc tế về tự chủ tổ chức bộ máy, nhân sự TĐH công lập được nhìn thấy khá rõ ở nội dung các nghiên cứu trong cuốn sách này là vấn đề tự do lựa chọn lãnh đạo TĐH (người đứng đầu điều hành). Cuốn sách chỉ ra có bốn cách chính để bổ nhiệm người đứng đầu điều hành tại các TĐH ở châu Âu.