Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CƠ SỞ GIÁO DỤC MẦM NON NGOÀI CÔNG LẬP 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lý, quản lý nhà nước 1. Quản lý Theo giáo trình “Những vấn đề cơ bản về quản lý hành chính nhà nước”: “Quản lý là sự tác động có định hướng và tổ chức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý bằng các phương thức nhất định để đạt tới những mục tiêu nhất định.
Chủ thể quản lý là các cá nhân, tổ chức có một quyền lực nhất định buộc các đối tượng quản lý phải tuân thủ các quy định do mình đề ra để đạt được những mục tiêu đã định trước. Đối tượng quản lý là các cá nhân, tổ chức trong quá trình hoạt động phải chịu sự tác động bằng phương pháp quản lý và công cụ quản lý của các chủ thể quản lý để nhằm đạt được những mục tiêu quản lý do chủ thể quản lý đặt ra. Khách thể quản lý là trật tự quản lý mà chủ thể quản lý bằng sự tác động lên các đối tượng quản lý thông qua các phương pháp quản lý và công cụ quản lý nhất định mong muốn thiết lập được để đạt được những mục tiêu định trước. Mục tiêu quản lý là những lợi ích vật chất, tinh thần và các lợi ích khác mà các chủ thể quản lý mong muốn đạt được trong quá trình tác động đến các đối tượng quản lý” [11, tr9].
Quản lý nhà nước “Quản lý nhà nước là hoạt động thực thi quyền lực nhà nước do các cơ quan nhà nước tiến hành đối với tất cả mọi cá nhân và tổ chức trong xã hội, trên tất cả các mặt của đời sống xã hội bằng cách sử dụng quyền lực nhà nước có tính cưỡng chế đơn phương nhằm mục tiêu phục vụ lợi ích chung của cả cộng đồng, duy trì ổn định, an ninh trật tự và thúc đẩy xã hội phát triển theo 9 một định hướng thống nhất của Nhà nước. Chủ thể quản lý nhà nước là các cơ quan nhà nước (cán bộ, công chức có thẩm quyền phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao). Những chủ thể này tham gia vào quá trình tổ chức quyền lực nhà nước về lập pháp, hành pháp, tư pháp theo quy định của pháp luật. Đối tượng của quản lý nhà nước bao gồm tất cả các cá nhân, tổ chức sinh sống, sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong phạm vi lãnh thổ quốc gia.
Quản lý nhà nước có tính toàn diện, bao gồm tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội như: chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng, v.v… Nhà nước sử dụng các công cụ quản lý chủ yếu là pháp luật, chính sách, kế hoạch để quản lý xã hội” [11, tr10]. Giáo dục, quản lý nhà nước về giáo dục 1. Giáo dục Giáo trình “Đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam về các lĩnh vực của đời sống xã hội” đã đưa ra khái niệm về giáo dục và đào tạo như sau: “Giáo dục là lĩnh vực trọng yếu quyết định sự tồn tại và phát triển của nhân loại. Nội hàm khái niệm giáo dục có cội nguồn từ khái niệm văn hóa (culture) được hiểu là trồng trọt tinh thần, vun đắp trí tuệ cho con người: “văn trị giáo hóa” “nhân văn giáo hóa”.
Giáo dục là hiện tượng xã hội, diễn ra quá trình trao truyền tri thức, kinh nghiệm giữa con người với con người thông qua ngôn ngữ và các hệ thống ký hiệu khác nhằm kế thừa, duy trì sự tồn tại, tiến hoá và phát triển nhân loại. Có thể nói, nếu không có giáo dục, loài người không thể tồn tại. Trong giáo dục đã bao hàm cả vấn đề đào tạo. Quan điểm giáo dục học hiện đại cho rằng cơ cấu của hoạt động giáo dục gồm bốn yếu tố: giáo dục gia đình; giáo dục nhà trường; giáo dục xã hội và quá trình tự giáo dục của mỗi cá nhân con người.
Ba yếu tố trên là hoàn cảnh bên ngoài quyết định gián tiếp, yếu tố sau cùng quyết định trực tiếp chất lượng giáo dục, hình thành và hoàn thiện nhân cách con người bao gồm phẩm chất (đức) và năng lực” [26]. 10 Ngoài ra cũng có thể hiểu giáo dục và đào tạo là hoạt động có tổ chức, có mục đích của xã hội nhằm bồi dưỡng và phát triển các phẩm chất và năng lực của con người. Trong đó: Giáo dục là quá trình hoạt động có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có tổ chức nhằm bồi dưỡng cho con người những phẩm chất đạo đức, những tri thức cần thiết để con người có khả năng tham gia mọi mặt của đời sống xã hội; là việc cung cấp kiến thức nhằm phát triển trí tuệ, nâng cao nhận thức, bồi dưỡng tình cảm, rèn luyện kỹ năng để con người vận dụng trong cuộc sống và lao động; là sự bồi dưỡng và phát triển toàn diện của con người từ bậc Giáo dục Mầm non đến Giáo dục Trung học phổ thông. Đào tạo là sự bồi dưỡng và chuẩn bị nghề cho con người trong các trường dạy nghề, cao đẳng và đại học.
Quản lý nhà nước về giáo dục Theo giáo trình Quản lý nhà nước về Văn hoá, Giáo dục, Y tế của Học viện Hành chính Quốc gia [26], QLNN trong lĩnh vực GD&ĐT thực chất là thực thi quyền hành pháp để tổ chức, điều hành và điều chỉnh mọi hoạt động giáo dục và đào tạo trong phạm vi toàn xã hội. QLNN về GD&ĐT là việc Nhà nước thực hiện quyền lực công để điều hành, điều chỉnh toàn bộ các hoạt động giáo dục trong phạm vi toàn xã hội nhằm định hướng, thiết lập trật tự kỷ cương của hoạt động GD&ĐT, hướng đến mục tiêu và yêu cầu của sự phát triển nguồn nhân lực quốc gia. Tìm hiểu quan niệm QLNN về giáo dục, có 03 bộ phận chính gồm: chủ thể, đối tượng và mục tiêu QLNN về giáo dục. Chủ thể QLNN về giáo dục là các cơ quan quyền lực Nhà nước.
Tuy nhiên, chủ thể trực tiếp là bộ máy quản lý giáo dục từ trung ương đến cơ sở được cụ thể hóa ở điều 104 của Luật Giáo dục năm 2019. Đối tượng của QLNN về giáo dục là hệ thống giáo dục quốc dân, là mọi hoạt động giáo dục trong phạm vi toàn xã hội. Mục tiêu QLNN về giáo dục là đảm bảo tuân chủ các quy định của pháp luật trong các hoạt động giáo dục, để thực hiện được mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho xã hội, hoàn thiện và phát triển nhân cách của công dân. Ở mỗi cấp, bậc học và trình độ đào tạo, mục tiêu này được cụ thể hóa trong Luật giáo dục và Điều lệ Nhà trường.
Nếu xem QLNN như là một hệ thống thì QLNN về giáo dục cũng là một hệ thống, bao 11 gồm: các thể chế, cơ chế, tổ chức bộ máy quản lý và đội ngũ cán bộ, công chức quản lý giáo dục ở các cấp. Ba bộ phận này có mối liên hệ và tác động qua lại với nhau rất chặt chẽ, chúng có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm lẫn nhau trong quá trình vận hành, tác nghiệp. QLNN về GD&ĐT là sự tác động, điều chỉnh thường xuyên của Nhà nước bằng quyền lực Nhà nước đối với toàn bộ hoạt động GD&ĐT của một quốc gia nhằm định hướng, thiết lập trật tự kỷ cương của hoạt động GD&ĐT, hướng đến mục tiêu và yêu cầu của sự phát triển nguồn nhân lực quốc gia. Chủ thể của QLNN về GD&ĐT là Nhà nước với hệ thống các cơ quan quyền lực của nó mà trực tiếp là Chính phủ và hệ thống bộ máy QLNN về GD&ĐT từ trung ương đến địa phương.
Khách thể của QLNN về GDĐT là hệ thống các cơ sở GD&ĐT và những người tham gia vào quá trình GDĐT. Giáo dục mầm non, quản lý nhà nước về giáo dục mầm non 1. Giáo dục mầm non 1. Khái niệm giáo dục mầm non Trong hệ thống giáo dục quốc dân, GDMN thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em từ ba tháng tuổi đến sáu tuổi.
GDMN là một cấp học tạo sự khởi đầu cho sự phát triển toàn diện của trẻ, góp phần đặt nền tảng cho việc học ở các cấp học tiếp theo và cho việc học tập suốt đời. GDMN được chia thành 02 giai đoạn: Nhà trẻ và Mẫu giáo. Giai đoàn nhà trẻ thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em từ ba tháng đến ba tuổi; giai đoạn mẫu giáo thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em từ ba tuổi đến sáu tuổi. Xét theo quan hệ phát triển, đó là bậc học có tính xuất phát điểm của toàn bộ quá trình học tập của con người.
Mục tiêu của GDMN là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em bước vào cấp học phổ thông. Nội dung GDMN phải bảo đảm hướng tới nhiều mục tiêu, đồng thời phù hợp với sự phát triển tâm sinh lý của trẻ em, hài hòa giữa nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo 12 dục; giúp trẻ em phát triển cơ thể cân đối, khoẻ mạnh, nhanh nhẹn; định hướng kỹ năng ứng xử xã hội, cộng đồng sao cho trẻ nhận thức được ban đầu về sự kính trọng, yêu mến, lễ phép với người lớn, người dạy và người thân trong gia đình. Chương trình GDMN bảo đảm thể hiện mục tiêu GDMN; cụ thể hóa các yêu cầu về nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em ở từng độ tuổi; quy định việc tổ chức các hoạt động nhằm tạo điều kiện để trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ; hướng dẫn cách thức đánh giá sự phát triển của trẻ em ở tuổi MN. Hệ thống cơ sở giáo dục mầm non Theo Điều 26 Luật Giáo dục năm 2019 [42], cơ sở GDMN bao gồm nhà trẻ, nhóm trẻ độc lập; trường mẫu giáo, lớp mẫu giáo độc lập; trường MN, lớp MN độc lập.
Thứ nhất, Nhà trẻ, nhóm trẻ độc lập nhận trẻ em từ 03 tháng tuổi đến 03 tuổi; Thứ hai, trường mẫu giáo, lớp mẫu giáo độc lập nhận trẻ em từ 03 tuổi đến 06 tuổi; Thứ ba, trường MN, lớp MN độc lập là cơ sở giáo dục kết hợp nhà trẻ và mẫu giáo, nhận trẻ em từ 03 tháng tuổi đến 06 tuổi.