Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KỸ NĂNG GIAO TIẾP CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu 1. Một số nghiên cứu trên thế giới Hoạt động giao tiếp vốn xuất hiện đồng thời với sự xuất hiện của loài người, minh chứng lịch sử của nó ẩn chứa từ các nền văn hóa cổ đại La Mã, Hy Lạp, Trung Hoa, Ấn Độ, Đông Nam Á v. Cụ thể, từ thế kỷ thứ XVII đến thế kỷ thứ XI trước công nguyên, dọc theo dải phù sa của sông Hoàng Hà đã xuất hiện thời đại Ân – Thương trong lịch sử văn minh Trung Hoa với một liên minh thị tộc rộng lớn.
Cũng trong thời kỳ này, chữ viết xuất hiện. Người Trung Quốc đã biết làm ra lịch mùa, một phát minh quan trọng của người Ân. Từ đó, hoạt động giao tiếp đã được ghi lại trong các văn vật, truyền thuyết, trường ca cổ đại như Trường ca Iliat Ô đi xe, Kinh thi, Trường ca Đam San. Từ thế kỷ VIII – III TCN là thời kỳ có nhiều biến động rộng lớn và cũng là thời kỳ rực rỡ xuất hiện nhiều trào lưu tư tưởng chính trị, triết học, tâm lý học với những nhân vật nổi bật như Khổng tử - nhà tư tưởng vĩ đại của trung hoa cổ đại.
Trong bộ Luận Ngữ mà các đệ tử của Khổng Tử tổng hợp lại từ các tác phẩm kinh điển của ông, chúng ta có thể tìm thấy những tư tưởng về giao tiếp đã trở thành “máu huyết” của người dân Trung Hoa. Nhân trong quan niệm của Khổng Tử là cách đối nhân, xử thế giữa người và người nhưng tuân theo chế độ đẳng cấp và quan hệ tông pháp, tùy thuộc vào phẩm hạnh, năng lực, hoàn cảnh mà thể hiện (Nguyễn Văn Lê, 1999). Socrate (470 – 399 TCN) – một trong những nhân vật lớn nhất, ngang hàng với Khổng Tử của lịch sử triết học Hy Lạp và Tây phương đã coi đối thoại như là sự giao tiếp trí tuệ, phản ánh các mối quan hệ qua lại giữa con người với con người. Trong thời kỳ phục hưng (1452 – 1512), họa sỹ thiên tài người Ý - Leonardo De Vince đã bàn về giao tiếp thông qua những tác phẩm của mình, ông chú trọng giao tiếp trong mối quan hệ mẹ con; Nhà triết học Hà Lan M.Phemtecloi (thế kỷ 18) đã viết một tiểu luận dưới nhan đề “một bức thư về con người và các quan hệ của nó với 8 người khác”, trong đó có đoạn: “muốn xem xét con người trong xã hội một chút ít thành công thì phải chú ý nghiên cứu một cơ quan mà cho đến nay chưa có tên riêng mà thường gọi là trái tim, tình cảm, lương tâm.
Giao tiếp với tư cách là một khoa học thì có lịch sử không lâu lắm. Giữa thế kỷ XIX, Heghen và Mac đã bàn về giao tiếp như nhu cầu xã hội giữa con người với con người. Tới đầu thế kỷ XX vấn đề giao tiếp càng được các nhà triết học, xã hội học, tâm lý học quan tâm nhiều hơn. Nhìn chung, tùy theo cách tiếp cận mà các trường phái tâm lý có những quan điểm khác nhau về vấn đề giao tiếp.
Theo tâm lý học Gestalt thì hiện tượng giao tiếp như một cấu trúc trọn vẹn. Họ phân tích giao tiếp thành các yếu tố và đặt chúng trong hệ thống các yếu tố rộng hơn, các quan hệ xã hội. Điển hình cho trường phái này là nhà tâm lý học người Pháp Bateson đã phân các yếu tố giao tiếp thành hai hệ thống giao tiếp là giao tiếp đối xứng và giao tiếp bổ sung. Theo ông giao tiếp thể hiện rõ hai tính đối xứng khi giao tiếp thiết lập sự bình đẳng, sự tương hỗ và tính bổ sung khi thể hiện sự khác nhau (Lê Thị Bừng và Hải Vang, 1997).
Trường phái phân tâm học với học giả điển hình là S.Freud đi sâu nghiên cứu về sự đồng nhất hóa và cho rằng chính cơ chế đồng nhất hóa này đảm bảo cho mối liên hệ qua lại giữa các chủ thể trong nhóm xã hội, từ đó tạo ra sự đồng nhất cảm xúc, thấu cảm, tiếp thu tình cảm của người khác và phân tâm học cho rằng sự đồng nhất hóa này là vô cùng quan trọng trong giao tiếp, nó cho phép cá nhân hiểu được tâm lý của người khác với cái tôi của cá nhân (Nguyễn Văn Đồng, 2010). Tâm lý học nhân văn qua học thuyết tháp nhu cầu của A. Maslow (1908 – 1970) cũng nói đến giao tiếp là con đường để giúp con người thỏa mãn những nhu cầu. Ngoài ra, trong giao tiếp chủ thể phải nhận ra được nhu cầu và khơi dậy nhu cầu của người khác (Lê Thị Bừng và Hải Vang, 1997).
Tâm lý học giao tiếp như một chuyên ngành mới xuất hiện từ đầu những năm 1970 với các công trình “Tâm lý học giao tiếp” của A. Giao tiếp là đối tượng nghiên cứu lý luận và thực tiễn của các tác giả Xanh – petebua (1972). Các sách viết về giao tiếp sư phạm của Kankalich (1987). 9 Nhìn chung, có bốn hướng nghiên cứu sau đây: - Hướng thứ nhất: Nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về giao tiếp như: bản chất, cấu trúc, cơ chế, phương pháp luận nghiên cứu giao tiếp, mối quan hệ giữa giao tiếp và hoạt động thuộc xu hướng này có công trình của A.Bođaliov, Xacopnhin, A.
- Hướng thứ hai: Nghiên cứu giao tiếp với nhân cách có công trình của A.Bohnheva… - Hướng thứ ba: Nghiên cứu các dạng giao tiếp nghề nghiệp như giao tiếp sư phạm có công trình của A. - Hướng thứ tư: Nghiên cứu các dạng giao tiếp như kỹ năng giao tiếp trong quản lý, trong kinh doanh và những bí quyết trong quan hệ giao tiếp có công trình của Allan Pease, Derak Torrington… Song song với giao tiếp, vấn đề kĩ năng giao tiếp cũng được các nhà tâm lý học trên thế giới đặc biệt quan tâm. Các nhà tâm lý học Liên Xô đã có nhiều công trình nghiên cứu về kĩ năng giao tiếp trong các lĩnh vực nghề nghiệp. Điển hình, nhà tâm lý A.Leonchiev đã liệt kê ra các kĩ năng giao tiếp sư phạm như kĩ năng điều khiển hành vi bản thân, kĩ năng quan sát, kĩ năng nhạy cảm xã hội, biết phán đoán nét mặt người khác, kĩ năng đọc, hiểu, biết mô hình hóa nhân cách học sinh, kĩ năng làm gương cho học sinh, kĩ năng giao tiếp ngôn ngữ, kĩ năng kiến tạo sự tiếp xúc, kĩ năng nhận thức (Nguyễn Ngọc Duy, 2015).
Bên cạnh đó, tác giả P.Ekman, bàn luận kĩ năng giao tiếp tập trung vào việc nhận diện nét mặt và cảm xúc của người khác trong quá trình giao tiếp và xem đây như là một kĩ năng cơ bản, nòng cốt cho kĩ năng giao tiếp (Paul Ekman.Dakharov thì lại quan tâm nghiên cứu và đưa ra các bộ trắc nghiệm để đánh giá kĩ năng giao tiếp thông qua các kĩ năng cụ thể như kĩ năng tiếp xúc, kĩ năng diễn đạt dễ hiểu, cụ thể, kĩ năng thiết lập mối quan hệ, kĩ năng kiểm tra người khác, kĩ năng quản lý hành vi bản thân (I. Một số nghiên cứu tại Việt Nam Nhiều công trình nghiên cứu vấn đề giao tiếp với những khía cạnh khác nhau như bản chất của giao tiếp, vai trò và vị trí của giao tiếp trong sự hình thành nhân 10 cách. Tiêu biểu có “Các Mác và phạm trù giao tiếp” (1963) của Đỗ Long, “giao tiếp, tâm lý, nhân cách” (1981) của Bùi Văn Huệ, nhập môn khoa học giao tiếp (2006) của Nguyễn Sinh Huy, Trần Trọng Thủy. Gần đây những tác phẩm tiêu biểu nổi bậc của chuyên ngành tâm lý như “Tâm lý học giao tiếp” (2007) của Trần Tuấn Lộ, “Giáo trình tâm lý học giao tiếp” (2011) của Huỳnh Văn Sơn chủ biên, “Hoạt động, giao tiếp, nhân cách” (2007) của Hoàng Anh chủ biên, “Tâm lý giao tiếp” (2011) của Lê Thị Hoa chủ biên.
Các công trình nghiên cứu đã đề cập đến những khái niệm cơ bản của giao tiếp, với các phạm trù liên quan như phong cách giao tiếp, hệ thống giao tiếp, nguyên tắc, quy trình ứng xử trong giao tiếp, cung cấp cái nhìn hệ thống về các vấn đề lý luận và thực tiễn trong giao tiếp. Đối với vấn đề kỹ năng giao tiếp, vào những năm cuối thế kỷ 20, đã có một số tác giả quan tâm, có thể kể đến một số nghiên cứu như: Trần Trọng Thủy với bài “Tình người, giao tiếp và văn hóa giao tiếp”. Trong tác phẩm này tác giả đã đề cập đến một số kỹ năng giao tiếp như kỹ năng chỉnh sửa các ấn tượng ban đầu của mình về người khác khi mới quen họ, kỹ năng bước vào giao tiếp với người khác một cách không có định kiến (Trần Trọng Thủy, 1998). Trong “Giáo trình tâm lý học quản lý” tác giả Nguyễn Đình Xuân đã đề cập đến kỹ năng giao tiếp và phong cách giao tiếp trong quản lý.
Tác giả đi sâu phân tích một số kỹ thuật giao tiếp như lựa chọn địa điểm, thời gian giao tiếp, những điều cần chú ý trong lễ tân tiếp khách (chào, hỏi, bắt tay), làm chủ cảm xúc của mình trong tiếp xúc, lắng nghe v. Bên cạnh đó, có rất nhiều luận án, luận văn nghiên cứu về kỹ năng giao tiếp, có thể kể đến Luận án Tiến sĩ tâm lý học “Kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viên” (1992) của Hoàng Thị Anh, luận án Tiến sĩ tâm lý học “Kỹ năng giao tiếp nghiệp vụ của trinh sát an ninh và phương pháp đánh giá chung” (2002) của Võ Sĩ Lục. Luận văn thạc sỹ tâm lý học có “Kỹ năng giao tiếp sư phạm của giáo sinh người dân tộc trong trường trung học sư phạm” (1996) của Trịnh Thị Ngọc Thìn, “Nghiên cứu khả năng giao tiếp của sinh viên trường Cao đẳng sư phạm Sơn La” (2001) của Lò Mai Thoan, “kỹ năng giao tiếp của sinh viên sư phạm trường Cao đẳng Cần Thơ” (2010) của Châu Thúy Kiều, “Tìm hiểu thực trạng một số kỹ năng giao tiếp của học 11 sinh trung học phổ thông địa bàn Quận 5, thành phố Hồ Chí Minh” (2002) của Lê Hồng Đào, “Thực trạng kỹ năng giao tiếp bạn bè của học sinh lứa tuổi trung học cơ sở trường Vừa học vừa làm 15 – 5” (2012) Thành phố Hồ Chí Minh của Nguyễn Thu Hà. Tóm lại, từ những công trình người nghiên cứu trình bày ở trên cho thấy, vấn đề kĩ năng giao tiếp nói chung, kỹ năng giao tiếp của học sinh nói riêng đặc biệt được quan tâm nghiên cứu.
Một vài công trình nghiên cứu liên quan đến các em học sinh dân tộc thiểu số như dân tộc Chăm, E – Đê v. Tuy nhiên vấn đề kỹ năng giao tiếp của học sinh đặc thù vừa có dân tộc Kinh và dân tộc Chăm thì chưa được nghiên cứu nhiều.