CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC GIẢNG DẠY 1. Khái niệm, vai trò công tác đào tạo và phát triển NNL giảng dạy trong các trường đại học 1. Khái niệm về đào tạo và phát triển NNL giảng dạy Khái niệm NNL: Thuật ngữ “nguồn nhân lực” (humans resourses) xuất hiện vào thập niên 80 của thế kỷ XX khi có sự thay đổi căn bản về phương thức quản lý, sử dụng con người trong kinh tế lao động.
Nguồn nhân lực (NNL) là nguồn lực con người, là yếu tố quan trọng nhất trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Khái niệm NNL được hiểu theo nhiều cách khác nhau: Theo như Nicolas Herry trong cuốn Public Administration and Public affairss thì: “NNL là nguồn lực con người của những tổ chức (với quy mô, loại hình, chức năng khác nhau) có khả năng và tiềm năng tham gia vào quá trình phát triển của tổ chức cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, khu vực, thế giới” (Nicholas Henry 2006, tr. Cách hiểu này về NNL xuất phát từ quan niệm coi NNL là “nguồn lực với các yếu tố thể chất, tinh thần tạo nên năng lực, sức mạnh phục vụ cho sự phát triển nói chung của các tổ chức” (Mai Quốc Chánh 2010, tr. Báo cáo đánh giá về những tác động của toàn cầu hóa đối với NNL của Liên hợp quốc đã đưa ra định nghĩa: NNL là trình độ lành nghề, kiến thức và năng lực thực có thực tế cùng với những năng lực tồn tại dưới dạng tiềm năng của con người.
Quan niệm về NNL theo hướng tiếp cận này có phần thiên về chất lượng của NNL. Trong quan niệm này, điểm được đánh giá cao là coi các tiềm năng của con người cũng là năng lực, khả năng để từ đó có những cơ chế thích hợp trong quản lý, sử dụng. Theo lý thuyết về tăng trưởng kinh tế, con người được coi là một phương tiện hữu hiệu cho việc đảm bảo tốc độ tăng trưởng kinh tế bền vững thậm 7 chí con người còn được coi là một nguồn vốn đặc biệt cho sự phát triển - vốn nhân lực. Về phương diện này Liên Hiệp Quốc cho rằng: nguồn lực con người là tất cả những kiến thức kỹ năng và năng lực con người có quan hệ tới sự phát triển kinh tế xã hội đất nước.
Ngày nay, NNL còn bao hàm khía cạnh về số lượng và chất lượng, không chỉ những người trong độ tuổi mà cả những người ngoài độ tuổi lao động. Tiếp cận dưới góc độ của Kinh tế Chính trị cho thấy: NNL là tổng hoà thể lực và trí lực tồn tại trong toàn bộ lực lượng lao động xã hội của một quốc gia, trong đó kết tinh truyền thống và kinh nghiệm lao động sáng tạo của một dân tộc trong lịch sử được vận dụng để sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ cho nhu cầu hiện tại và tương lai của đất nước (Nguyễn Tiệp 2005, Tr.25) Theo ngôn ngữ quản trị, NNL được hiểu là “tất cả các tiềm năng của con người trong tổ chức hay xã hội (kể cả những thành viên trong ban lãnh đạo doanh nghiệp), tức là tất cả các thành viên trong doanh nghiệp sử dụng kiến thức, khả năng, hành vi ứng xử và giá trị đạo đức để thành lập, duy trì và phát triển doanh nghiệp”. Từ các định nghĩa trên, ta thấy “NNL được hiểu là nguồn tài nguyên nhân sự và các vấn đề nhân sự trong một tổ chức cụ thể; nghĩa là toàn bộ đội ngũ cán bộ, công nhân viên của tổ chức với tư cách vừa là khách thể trung tâm của nhà quản trị, vừa là chủ thể hoạt động và là động lực phát triển của các doanh nghiệp nói riêng, của mọi tổ chức nói chung” (Phùng Xuân Nhạ 2007, tr. Kế thừa những thành tựu nghiên cứu của những nhà khoa học đi trước, trên cơ sở nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, tác giả thống nhất đề xuất sử dụng khái niệm về NNL như sau: “NNL trong trường đại học là tổng hợp những con người - bằng khả năng lao động của mình - đã, đang và sẵn sàng đóng góp cho sự phát triển chung của trường đại học đó” (Cảnh Chí Dũng 2008, tr.
Khái niệm về NNL giảng dạy: NNL giảng dạy trong các trường đại học được hiểu là các giảng viên. Định nghĩa giảng viên được tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau. 8 Điều 41 Luật Giáo dục Lào năm 2008 quy định Giảng viên đại học, cao đẳng là những viên chức chuyên môn đảm nhiệm việc giảng dạy và đào tạo ở bậc đại học, cao đẳng thuộc một chuyên ngành đào tạo của trường đại học hoặc cao đẳng. Tại Việt Nam, cũng theo Luật Giáo dục được Quốc hội sử a đổ i năm 2009 thì “Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp trình độ sơ cấp nghề, trung cấp nghề, trung cấp chuyên nghiệp gọi là giáo viên.
Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục đại học, trường cao đẳng nghề gọi là giảng viên”. Ở góc độ vai trò, nhiệm vụ, giảng viên cũng có thể được hiểu là người trực tiếp tham gia vào hệ thông giáo dục đại học với vai trò truyền đạt và hướng dẫn. Nếu nhìn từ một góc độ khác, cụ thể, dễ hiểu và phổ biến hơn, thì trong các trường đại học, “giảng viên là những người làm công tác giảng dạy (lý thuyết và thực hành), được hiệu trưởng công nhận chức vụ và phân công công tác giảng dạy hoặc những cán bộ khoa học kỹ thuật làm việc trong hay ngoài trường, tham gia giảng dạy theo chế độ kiêm nhiệm”. Hiện nay ở các trường đại học ở hầu hết các quốc gia trên thế giới đều xác định chức năng chính của người giảng viên bao gồm 3 chức năng cơ bản như sau: (1).
Giảng viên là Nhà giáo; (2). Giảng viên là Nhà khoa học; (3). Giảng viên là Nhà cung ứng dịch vụ cho cộng đồng. Nghĩa là: Giảng viên = Nhà giáo + Nhà khoa học + Nhà cung ứng dịch vụ cho cộng đồng.
Giảng viên – Nhà giáo Đây là vai trò truyền thống, nhưng quan trọng và tiên quyết đối với một giảng viên. Một giảng viên giỏi trước hết phải là một người Thầy giỏi; theo các nhà giáo dục thế giới thì một giảng viên có năng lực toàn diện là người được trang bị 4 nhóm kiến thức/ kỹ năng sau: 9 Một là, kiến thức chuyên ngành: kiến thức chuyên sâu về chuyên ngành và chuyên môn mà mình giảng dạy; Hai là, kiến thức về chương trình đào tạo: Tuy mỗi giảng viên đều đi sâu một chuyên ngành nhất định, nhưng để đảm bảo tính liên thông, gắn kết giữa các môn học thì giảng viên phải dược trang bị hoặc tự trang bị các kiến thức về cả chương trình giảng dạy; Ba là, kiến thức và kỹ năng về dạy và học: Bao gồm khối kiến thức về phương pháp luận, kỹ thuật dạy và học nói chung và dạy/học trong từng chuyên ngành cụ thể; Bốn là, kiến thức về môi trường giáo dục, mục tiêu giáo dục, giá trị giáo dục… đây có thể coi là khối kiến thức cơ bản nhất làm nền tảng cho các hoạt động dạy và học. Giáo viên - Nhà khoa học Ở vai trò thứ hai này, giảng viên thực hiện vai trò nhà khoa học với chức năng giải thích và dự báo các vấn đề của tự nhiên và xã hội mà loài người và khoa học chưa có lời giải. Nghiên cứu khoa học, tìm cách ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học về thực tiễn đời sống và công bố các kết quả nghiên cứu cho cộng đồng.
Từ đây có hai xu hướng nghiên cứu chính: nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng. Khác với nghiên cứu cơ bản mang tính giải thích và dự báo các vấn đề chưa khai phá của tự nhiên và xã hội, nghiên cứu ứng dụng là loại nghiên cứu hướng đến việc ứng dụng các kết quả của nghiên cứu cơ bản giải quyết các vấn đề cụ thể của xã hội. Thông thường nghiên cứu cơ bản được coi là vai trò chính của các giảng viên. Còn nghiên cứu ứng dụng mang tính công nghệ thường là kết quả của mối liên kết giữa các nhà khoa học và nhà ứng dụng (các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội).
Do vậy, nghiên cứu ứng dụng thường mang màu sắc của các dự án tư vấn được đặt hàng bởi cộng đồng doanh nghiệp và doanh nghiệp tài trợ. Giảng viên - Nhà cung ứng dịch vụ cho xã hội Đây là một vai trò mà rất nhiều giảng viên đại học ở Lào đang thực hiện, nó cũng là một vai trò mà xã hội đánh giá cao và kỳ vọng ở các giảng viên. Ở vai trò 10 này, giảng viên cung ứng các dịch vụ của mình cho nhà trường, cho sinh viên, cho các tổ chức xã hội - đoàn thể, cho cộng đồng và cho toàn xã hội. Cụ thể là đối với nhà trường và sinh viên, một giảng viên cần thực hiện các nhiệm vụ như tham gia công tác quản lý, các công việc hành chính, tham gia hoạt động tại các tổ chức xã hội, tư vấn cho sinh viên, liên hệ thực tập, tìm chỗ làm cho sinh viên.
Đối với ngành của mình, giảng viên làm phản biện cho các tạp chí khoa học, tham dự và tổ chức các hội thảo khoa học. Đối với cộng đồng, giảng viên trong vai trò của một chuyên gia cũng thực hiện các dịch vụ như tư vấn, cung ứng thông tin, viết báo. Trong chức năng này, giảng viên đóng vai trò là cầu nối giữa khoa học và xã hội, để đưa nhanh các kiến thức khoa học vào đời sống cộng đồng. Viết báo thời sự (khác với báo khoa học) là một chức năng khá quan trọng và có ý nghĩa lớn trong việc phổ biến các kiến thức khoa học trong xã hội và góp phần nâng cao dân trí.
Tóm lại, tác giả đề nghị hiểu NNL giảng dạy là giảng viên, “giảng viên là viên chức chuyên môn được đảm nhiệm việc giảng dạy và đào tạo ở bậc đại học, cao đẳng thuộc một chuyên ngành đào tạo của trường đại học và cao đẳng”. Khái niệm đào tạo và phát triển NNL: Đào tạo và phát triển NNL là “các hoạt động nhằm duy trì và nâng cao chất lượng NNL trong mỗi tổ chức”, đây có thể coi là điều kiện tiên quyết đến sự tồn tại và phát triển mỗi tổ chức, giúp tổ chức có thế đứng vững và thắng lợi trong môi trường cạnh tranh hiện nay. Có thể nói, đào tạo và phát triển NNL chính là toàn bộ những hoạt động học tập được tổ chức bởi doanh nghiệp, do doanh nghiệp cung cấp cho người lao động.