Luận án tiến sĩ: Quản lý công và xã hội hóa giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay

Luận án tiến sĩ giáo dục phân tích quản lý công xã hội hóa giáo dục đại học ở việt nam hiện nay, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực nghiệm, đóng góp tri thức mới cho ngành.

Trường đại học

Học viện Hành chính Quốc gia

Chuyên ngành

Quản lý công

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2021

194
7
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ

MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

0.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

0.5. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

0.6. Điểm mới của Luận án

0.7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của Luận án

0.8. Cấu trúc của Luận án

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC VÀ XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC ĐẠI HỌC

1.1. Các công trình ngoài nước

1.2. Các công trình trong nước

1.3. Nhận xét kết quả nghiên cứu của các công trình có liên quan và vấn đề đặt ra đối với luận án

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC

2.1. Các khái niệm liên quan

2.1.1. Khái niệm “xã hội hóa”

2.1.2. Khái niệm “giáo dục đại học”

2.1.3. Khái niệm “xã hội hóa giáo dục đại học”

2.2. Nội dung, đặc điểm và vai trò của xã hội hóa giáo dục đại học

2.2.1. Nội dung của xã hội hóa giáo dục đại học

2.2.2. Đặc điểm của xã hội hóa giáo dục đại học

2.2.3. Vai trò của xã hội hóa giáo dục đại học

2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến xã hội hóa giáo dục đại học

2.3.1. Truyền thống văn hóa về giáo dục

2.3.2. Trình độ phát triển kinh tế - xã hội

2.3.3. Chính sách và pháp luật của nhà nước về xã hội hóa giáo dục đại học

2.3.4. Nhận thức, sự đồng thuận và năng lực thực hiện xã hội hóa của các cơ sở giáo dục đại học và cộng đồng

2.3.5. Thực tiễn hội nhập quốc tế sâu rộng và sự tham gia đầu tư vào giáo dục đại học của đối tác ngoài nước

2.4. Thực trạng giáo dục đại học và kết quả triển khai xã hội hóa giáo dục đại học giai đoạn đầu

2.5. Kinh nghiệm quốc tế về xã hội hóa giáo dục đại học và bài học cho Việt Nam

2.6. Chia sẻ chi phí giáo dục đại học

2.7. Mở rộng quyền tự chủ của các cơ sở giáo dục đại học

2.8. Phát triển mô hình đại học doanh nghiệp

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM

3.1. Khái quát về giáo dục đại học Việt Nam

3.1.1. Về mạng lưới

3.1.2. Về quy mô

3.1.3. Về giảng viên

3.2. Cơ sở chính trị và pháp lý của xã hội hóa giáo dục đại học ở Việt Nam

3.2.1. Cơ sở chính trị của xã hội hóa giáo dục đại học ở Việt Nam

3.2.2. Pháp luật về xã hội hóa giáo dục đại học ở Việt Nam

3.3. Phân tích và đánh giá kết quả xã hội hóa giáo dục đại học ở Việt Nam

3.3.1. Về phát triển giáo dục đại học ngoài công lập

3.3.2. Về thu hút tài chính ngoài ngân sách cho giáo dục đại học

3.3.3. Về tiếp nhận các nguồn lực phi tài chính cho giáo dục đại học

3.3.4. Về thực hiện quyền tự chủ của các cơ sở giáo dục đại học

3.3.5. Về hợp tác quốc tế về giáo dục đại học

3.3.6. Đánh giá chung về kết quả xã hội hóa giáo dục đại học

4. CHƯƠNG 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM

4.1. Bối cảnh và xu hướng xã hội hóa giáo dục đại học hiện nay

4.1.1. Bối cảnh đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục đại học hiện nay

4.1.2. Xu hướng xã hội hóa giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay

4.2. Quan điểm đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục đại học ở Việt Nam

4.2.1. Xã hội hóa giáo dục đại học là nhằm hướng tới nâng cao chất lượng và hiệu quả của giáo dục đại học

4.2.2. Tăng cường xã hội hóa giáo dục đại học không tách rời việc nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước về giáo dục đại học

4.2.3. Thực hiện xã hội hóa giáo dục đại học phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế-xã hội

4.2.4. Mở rộng và đa dạng hóa toàn hệ thống giáo dục đại học song hành với đầu tư trọng điểm một số lĩnh vực mũi nhọn trong các trường đại học nghiên cứu

4.2.5. Quyền tự chủ luôn gắn liền với trách nhiệm giải trình và năng lực tự chủ của trường đại học

4.3. Giải pháp đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục đại học ở Việt Nam

4.3.1. Nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của xã hội hóa giáo dục đại học

4.3.2. Hoàn thiện chính sách, pháp luật xã hội hóa giáo dục đại học

4.3.3. Tổ chức thực hiện có hiệu quả xã hội hóa giáo dục đại học

4.3.4. Bảo đảm các điều kiện đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục đại học

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu về luận án tiến sĩ

Luận án tiến sĩ về quản lý côngxã hội hóa giáo dục đại học tại Việt Nam được thực hiện nhằm phân tích và đánh giá thực trạng của xã hội hóa giáo dục đại học trong bối cảnh hiện nay. Tác giả Tạ Thị Bích Ngọc đã chỉ ra rằng, xã hội hóa giáo dục đại học không chỉ là một xu hướng tất yếu mà còn là một giải pháp quan trọng để nâng cao chất lượng giáo dục. Luận án nhấn mạnh rằng, việc huy động sự tham gia của toàn xã hội vào giáo dục đại học sẽ giúp giảm bớt gánh nặng ngân sách nhà nước và tạo ra nhiều cơ hội học tập cho người dân. Đặc biệt, trong bối cảnh Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức trong giáo dục, việc xã hội hóa sẽ góp phần nâng cao hiệu quả và chất lượng đào tạo.

II. Cơ sở lý luận về xã hội hóa giáo dục đại học

Chương này tập trung vào việc làm rõ các khái niệm liên quan đến xã hội hóa giáo dục đại học. Tác giả đã phân tích khái niệm xã hội hóa, giáo dục đại học, và xã hội hóa giáo dục đại học. Theo đó, xã hội hóa giáo dục đại học được hiểu là quá trình huy động sự tham gia của các thành phần trong xã hội vào việc nâng cao chất lượng giáo dục. Tác giả cũng chỉ ra rằng, xã hội hóa giáo dục đại học không chỉ là trách nhiệm của nhà nước mà còn là sự tham gia tích cực của các tổ chức, cá nhân trong xã hội. Điều này giúp tạo ra một môi trường giáo dục đa dạng và phong phú, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội.

III. Thực trạng xã hội hóa giáo dục đại học ở Việt Nam

Chương này đánh giá thực trạng xã hội hóa giáo dục đại học tại Việt Nam, chỉ ra những kết quả đạt được cũng như những hạn chế còn tồn tại. Tác giả đã phân tích các hoạt động như phát triển giáo dục đại học ngoài công lập, thu hút tài chính ngoài ngân sách, và thực hiện quyền tự chủ của các cơ sở giáo dục đại học. Mặc dù có những tiến bộ nhất định, nhưng việc xã hội hóa vẫn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là trong việc thu hút nguồn lực và phát huy vai trò của các bên liên quan. Tác giả nhấn mạnh rằng, cần có những giải pháp cụ thể để khắc phục những hạn chế này, nhằm thúc đẩy xã hội hóa giáo dục đại học một cách hiệu quả hơn.

IV. Giải pháp đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục đại học

Chương cuối cùng của luận án đề xuất các giải pháp nhằm đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục đại học ở Việt Nam. Tác giả nhấn mạnh rằng, việc nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của xã hội hóa là rất cần thiết. Đồng thời, cần hoàn thiện chính sách và pháp luật liên quan đến xã hội hóa giáo dục đại học. Các giải pháp cụ thể bao gồm tổ chức thực hiện có hiệu quả các hoạt động xã hội hóa, bảo đảm các điều kiện cần thiết để thúc đẩy sự tham gia của toàn xã hội vào giáo dục. Tác giả cũng chỉ ra rằng, việc thực hiện tốt các giải pháp này sẽ giúp xã hội hóa giáo dục đại học phát huy được vai trò của mình trong việc nâng cao chất lượng giáo dục và đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội.

13/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC VÀ XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC ĐẠI HỌC 1. Các công trình ngoài nước Giáo dục theo gốc Latinh (educare) là nuôi nấng, dạy dỗ; theo gốc Hán Việt là chỉ bảo, dạy dỗ, chăm sóc. Trong ngôn ngữ hiện đại ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, GD được dùng để chỉ hệ thống GD từ phổ thông tới ĐH với ý nghĩa là sự bồi dưỡng của thế hệ trước đối với thế hệ sau nhằm duy trì và phát triển XH. Trình độ của nền GD có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của mọi quốc gia, nhất là trong các bối cảnh biến động và khủng hoảng.

Điều này lý giải vì sao hầu hết các công cuộc cải cách và đổi mới GD đều gắn với những biến đổi lớn về kinh tế-XH trong các thời kỳ. Với vai trò là một phương thức hữu hiệu để đổi mới GDĐH, XHH GDĐH và các nội dung của nó đã được nghiên cứu tại nhiều quốc gia. Tại Hoa Kỳ, dẫn theo bài viết “Market in higher education: Can we still learm from economics’ founding fathers?” của Pedro NunoTeixeira (2006), tác giả Vũ Thị Phương Anh khẳng định GDĐH ở đây chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi tư tưởng của bốn nhà kinh tế học là Adam Smith (1723-1790), John Stuart Mill (1806-1873), Alfred Marshall (1842-1924) và Milton Friedman (1912-2006). Theo đó, Adam Smith được cho là người đầu tiên đưa yếu tố thị trường vào trong lý luận GD khi cho rằng: “phải giải phóng các lực lượng thị trường (market forces), khuyến khích các sáng kiến tư nhân trong GD và tận dụng cơ chế cạnh tranh giữa các lực lượng này.

NN không nên can thiệp quá sâu vào GDĐH. John Stuart Mill ủng hộ GDĐH tư và cơ chế cạnh tranh, song khẳng định “Thị trường GDĐH phải được NN kiểm soát chặt chẽ, chứ không thể để cho “người tiêu dùng” tự kiểm soát thông qua quyền lựa chọn của mình”. Alfred Marshall chỉ ra hai đặc điểm quan trọng nhất của thị trường GDĐH so với các loại thị trường khác là “Sự đầu tư rất dài khiến cho mục tiêu cần đạt chỉ có thể xác định được một cách khá mơ hồ” và “Tồn tại một sự đứt khúc giữa một bên là những cá nhân trả chi phí đầu tư cho GD (thông thường là các bậc phụ huynh) và một bên là những người được hưởng lợi ích từ việc học tập (là những người đi học)” và cho rằng NN cần can thiệp vào thị trường GD [89]. Thừa nhận sự tồn tại của thị trường GD và tin rằng cần có sự can thiệp của 10 NN đối với thị trường này là quan điểm tồn tại suốt thế kỷ XX và chỉ thay đổi khi Milton Friedman công bố những quan điểm của mình về vai trò của thị trường trong GD.

Theo đó, để GDĐH phát triển thì cần sự cân bằng giữa vai trò của NN và thị trường: “NN chỉ nên bao cấp những lãnh vực nào đem lại lợi ích công, hoặc những con người nào thuộc diện cần bao cấp (VD: các diện chính sách) và không phân biệt trường công trường tư, chứ không phải bao cấp khu vực công và loại trừ khu vực tư” [89]. NN giữ vai trò giám sát và chỉ can thiệp trong một số trường hợp đặc biệt, còn lại trao quyền tự chủ cho nhà trường. Chịu ảnh hưởng bởi các lý thuyết này, GDĐH ở Hoa Kỳ có tính tự quản rất cao. Các trường ĐH ở Hoa Kỳ hoàn toàn không chịu sự QL của CP, của chính quyền liên bang hay chính quyền tiểu bang về chương trình ĐT, nội dung ĐT, tuyển sinh và bổ nhiệm giáo sư.

Các trường CL chỉ chịu sự bổ nhiệm hội đồng quản trị của cấp tài trợ. Các trường ĐH tư thục ở Hoa Kỳ không dựa vào sự hỗ trợ tài chính của chính quyền liên bang, mà chủ yếu huy động nguồn lực từ các cựu SV, tổ chức XH. Ngoài nguồn lực tài chính, các ĐH tư thục còn tiếp nhận hỗ trợ về cơ sở hạ tầng, về học bổng và về giảng dạy. Xu thế này đang được mở rộng tại các ĐHCL Hoa Kỳ.

Thực tế này dẫn tới hướng nghiên cứu về tự do học thuật và tự chủ ĐH (cả trong và ngoài nước) là hướng nghiên cứu được quan tâm chủ yếu nhất trong số các vấn đề về XHH GDĐH tại quốc gia này. Có thể chỉ ra một số nghiên cứu như: Patrick D. Pauken, Bowling Green State University, “Academic freedom and Institutional autonomy in American and Australian Universities: A twenty-first century dialogue and a call to leaders”, 1327-7634 Vol 12, No 1, pp. 7-27 Australia & New Zealand Journal of Law & Education (Tự do học thuật và tự chủ ĐH ở Mỹ và Úc: Đối thoại thế kỷ XXI và thông điệp tới các nhà lãnh đạo) nghiên cứu những đối thoại giữa các tổ chức và cá nhân có liên quan tới tự chủ ĐH và tự do học thuật, để tìm kiếm, sửa đổi và công bố các thông điệp về vấn đề này trong bối cảnh vị trí các trường ĐH đang thay đổi; Luigi Einaudi, Harvard College.

Candidate, Harvard University, “University autonomy and academic freedom in Latin America” (Tự chủ ĐH và tự do học thuật ở Mỹ Latinh) giới thiệu về ĐH ở Mỹ Latinh trong bối cảnh lịch sử Mỹ Latinh hiện đại, cũng như nguồn gốc và diễn tiến 11 của tự chủ ĐH và tự do học thuật tại khu vực này… Tại Châu Âu, năm 1973, cuộc khủng hoảng năng lượng thế giới kéo theo nhiều cuộc khủng hoảng kinh tế, tài chính và tiền tệ đã gây nên những tác động nặng nề tới các quốc gia Tây Âu. Hàng loạt những vấn đề XH có tính toàn cầu xuất hiện đã đặt ra những thách thức không nhỏ đối với hoạt động điều hành đất nước. Tại châu Âu, xu thế giảm chi ngân sách, tăng cường sự tham gia của khu vực tư vào cung ứng cách dịch vụ công cộng nói chung và GDĐH nói riêng được mở rộng hơn bao giờ hết. Đầu những năm 2000, cộng đồng chung châu Âu đã đề nghị các nước thành viên nghiên cứu trao quyền tự chủ cho ĐH nhằm tăng sức cạnh tranh trên tầm quốc tế, nhằm đổi mới GD và tăng vai trò trong nền kinh tế.

Bước sang thập niên thứ hai của thế kỷ XXI, châu Âu đối mặt với những thách thức to lớn tới mức không quốc gia nào có thể tự mình giải quyết được (khủng hoảng kinh tế, thất nghiệp, sự cạnh tranh của các nền kinh tế đang phát triển, sự già hóa dân số. Nhận thức được vai trò nền tảng của GD đối với sự phát triển, trong khi tiến hành phân bố ngân sách châu Âu giai đoạn 2014-2020, các CP EU đã quyết định gia tăng đầu tư cho GD và nghiên cứu với kỳ vọng thúc đẩy được sự phục hồi về kinh tế và XH. Nếu như chương trình Erasmus (Chương trình hành động của Cộng đồng châu Âu về trao đổi SV) giai đoạn 2014-2020 là một thí dụ điển hình cho mở rộng hợp tác quốc tế về GDĐH; thì MOOCs (Massive Open Online Courses-Các khóa học trực tuyến mở qui mô lớn) là cách thức chuyển giao kiến thức mới trong tiến trình đa dạng hóa các hình thức học tập ĐH hướng tới nhu cầu người học. Cùng với vấn đề tự chủ ĐH, đây là các hướng nghiên cứu chính về XHH GDĐH mà châu Âu đang quan tâm.

Điển hình như: Thorsten Nybom1 Örebro University, SE-701 82, Örebro, Sweden, “University autonomy: a matter of political rhetoric?” (Tự chủ ĐH, một vấn đề hùng biện chính trị); Robert Berdahl, “Academic Freedom, Autonomy and Accountability in British Universities” (Tự do học thuật, tự chủ và trách nhiệm ở ĐH Anh quốc); Prof. Luc WEBER Rector Emeritus University of Geneva Vice-President IAU (IAU/IAUP Presidents’ Symposium Chiang Mai, T hailand, 8-9 December 2006), “University autonomy, a necessary, but not sufficient condition for excellence” (Tự chủ ĐH, điều kiện cần nhưng chưa đủ); Gönül Oǧuz, Department of Economics, 12 Faculty of Economics and Administrative Sciences, Giresun University, Turkey, “Attracting European academics to Turkey under the Erasmus programme” (Thu hút các học giả châu Âu đến Thổ Nhĩ Kỳ theo chương trình Erasmus); René F. Kizilcec, Chris Piech, Emily Schneider: “Deconstructing Disengagement: Analyzing Learner Subpopulations in Massive Open Online Courses” (Phân tích thống kê các thông số của người học trong các khóa học trực tuyến mở quy mô lớn). Tại Trung Quốc, khái niệm XHH GD lần đầu tiên xuất hiện năm 1985 trong “Quyết định cải cách chế độ GD” của NN Trung Quốc “với nội hàm ý nghĩa là chuyển đổi từ chế độ NN bao cấp toàn bộ về mặt tài chính sang chế độ NN và nhân dân cùng nhau đóng góp trong GD” [18, tr.

Quan niệm XHH GDĐH là đưa cơ chế kinh tế thị trường vào GDĐH, các học giả Trung Quốc chủ yếu xem xét XHH GD trên các nguyên tắc cơ bản của kinh tế thị trường, điển hình như: Trương Kim Phúc (2001), “XHH ĐH: Động lực, ảnh hưởng và xu thế”, Tạp chí Học viện Sư phạm Ngọc Lâm, Nxb, Triết học XH [18, tr.13]; Hoàng Đản, Vương Chí Vũ (2006), “Chế độ học tập quyên góp-Con đường cải cách XHH GDĐH nước ta”, Tạp chí Khoa học XH Trùng Khánh, kỳ 2 [18, tr.4]; Dương Minh, Dư Đức Long (2005), “Luận về phương thức XHH trong đầu tư kinh phí đối với GDĐH dân lập Trung Quốc”, Nghiên cứu phát triển GD [18, tr.5]; Ngoài các nghiên cứu tập trung vào khía cạnh tài chính và nguồn vốn của XHH GD, đã có một số công trình đề cập tới các tác động của XHH GDĐH đối với văn hóa ĐH và với GV ĐH [18, tr. Từ sau Đại hội lần thứ XVI Đảng Cộng sản Trung Quốc, chủ trương xây dựng XH học tập được xác định. Hiện đại hóa GD được coi là động lực của sự nghiệp hiện đại hóa XH. Trong cuốn sách “Hiện đại hóa GD” (2014), tác giả Vương Bân Thái đã phân tích nhiều khía cạnh về mục tiêu, còn đường hiện đại hóa GD của Trung Quốc.

Mặc dù không trực tiếp sử dụng thuật ngữ XHH GD, song những phân tích về đặc trưng và nội hàm của hiện đại hóa GD cho thấy có rất nhiều điểm giao thoa với GD đại chúng và XHH GD: “Hiện đại hóa GD có các đặc tính chủ yếu là tính toàn dân, tính suốt đời, tính sáng tạo, quốc tế hóa và thông tin hóa” [68, tr. Tính đa dạng về yêu cầu phát triển con người trong XH hiện đại được cho là căn nguyên góp phần phá vỡ khung GD cứng nhắc trong trường học “thể hiện sự song song tồn tại 13 của nhiều hình thức GD chính quy và phi chính quy, GD chính thức và GD không chính thức” [68, tr. Đây là biểu hiện rất căn bản của XHH GDĐH.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ về quản lý công và xã hội hóa giáo dục đại học tại Việt Nam cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách thức quản lý và phát triển giáo dục trong bối cảnh hiện đại. Tài liệu này không chỉ phân tích các chính sách và quy định liên quan đến giáo dục đại học mà còn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xã hội hóa giáo dục, từ đó tạo ra những cơ hội và thách thức cho các cơ sở giáo dục. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin quý giá về cách thức cải thiện chất lượng giáo dục và nâng cao hiệu quả quản lý trong các trường đại học.

Để mở rộng thêm kiến thức về các khía cạnh liên quan, bạn có thể tham khảo các tài liệu như Luận văn quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo ở nước ta trong giai đoạn hiện nay, nơi cung cấp cái nhìn tổng quan về quản lý giáo dục trong bối cảnh hiện tại. Bên cạnh đó, Luận văn thạc sĩ quan lí hoạt động xã hội hóa giáo dục ở các trường trung học cơ sở huyện Cờ Đỏ thành phố Cần Thơ sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các hoạt động xã hội hóa trong giáo dục ở cấp trung học. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ luật học bảo đảm quyền con người trong việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc từ thực tiễn tỉnh Phú Thọ sẽ mang đến cái nhìn về quyền con người trong giáo dục, một vấn đề quan trọng trong quản lý giáo dục hiện nay. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng hiểu biết và khám phá sâu hơn về các vấn đề liên quan đến quản lý giáo dục và xã hội hóa giáo dục tại Việt Nam.