Tổng quan luận án

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Giáo dục đại học (GDĐH) giữ vai trò then chốt trong việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, tiếp thu và chuyển giao tri thức khoa học - công nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Chất lượng GDĐH phụ thuộc vào nhiều yếu tố như chương trình, nội dung, cơ sở vật chất, nhưng nhân tố mang tính quyết định trực tiếp là chất lượng của đội ngũ giảng viên. Tuy nhiên, chất lượng đội ngũ giảng viên tại các trường đại học công lập (ĐHCL) ở Việt Nam thời gian qua vẫn còn nhiều hạn chế so với yêu cầu thực tiễn. Một trong những nguyên nhân căn bản bắt nguồn từ sự bất cập trong công tác quản lý nhà nước (QLNN) về GDĐH và quản lý nội bộ của các cơ sở giáo dục.

Trong điều kiện kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế và triển khai cơ chế tự chủ đại học, QLNN đối với giảng viên các trường ĐHCL bộc lộ nhiều điểm nghẽn pháp lý và thực tiễn:

  • Giảng viên đồng thời chịu sự điều chỉnh của nhiều văn bản quy phạm pháp luật thuộc các ngành luật khác nhau (pháp luật về viên chức, giáo dục, giáo dục đại học, lao động, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp), dẫn đến tình trạng một số quy định còn cứng nhắc, chậm được cụ thể hóa, thậm chí mâu thuẫn và chồng chéo.
  • Công tác quản lý, tuyển dụng, sử dụng, đánh giá giảng viên vẫn nặng về thủ tục hành chính, chưa tương thích đầy đủ với cơ chế tự chủ và tự chịu trách nhiệm của các trường ĐHCL.
  • Hoạt động quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng giảng viên còn mang tính hình thức; công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện chế độ, chính sách đối với giảng viên chưa đạt hiệu quả cao.
  • Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về giảng viên dưới góc độ quản lý giáo dục hoặc hành chính công, nhưng một công trình nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện dưới góc độ khoa học pháp lý về QLNN đối với giảng viên các trường ĐHCL ở quy mô toàn quốc vẫn là khoảng trống cần được giải quyết.

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích tổng quát của luận án là xây dựng luận cứ khoa học và thực tiễn cho việc đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả QLNN đối với đội ngũ giảng viên các trường ĐHCL, đáp ứng yêu cầu đổi mới chất lượng hoạt động GDĐH ở Việt Nam hiện nay.

Để thực hiện mục đích trên, luận án xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Nghiên cứu làm sáng tỏ các khía cạnh lý luận liên quan đến QLNN đối với đội ngũ giảng viên các trường ĐHCL ở Việt Nam.
  2. Nghiên cứu thực trạng QLNN đối với đội ngũ giảng viên các trường ĐHCL ở Việt Nam; từ đó xác định những vấn đề đặt ra cần giải quyết nhằm đổi mới QLNN đối với đội ngũ này.
  3. Nghiên cứu xác định quan điểm và đề xuất hệ thống giải pháp đổi mới QLNN đối với đội ngũ giảng viên các trường ĐHCL ở Việt Nam hiện nay.

Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

Luận án giải quyết ba nhóm câu hỏi nghiên cứu:

  1. QLNN đối với giảng viên các trường ĐHCL là gì, được tổ chức thực hiện như thế nào? Những yếu tố nào ảnh hưởng đến công tác QLNN đối với giảng viên các trường ĐHCL? Vì sao phải đổi mới QLNN đối với giảng viên các trường ĐHCL ở Việt Nam hiện nay?
  2. QLNN đối với giảng viên các trường ĐHCL những năm qua đã đạt những kết quả gì? Còn bộc lộ những hạn chế, bất cập gì? Đâu là nguyên nhân của những kết quả đạt được và những hạn chế, bất cập đó?
  3. Đổi mới QLNN đối với giảng viên trường ĐHCL hiện nay cần thực hiện trên những quan điểm, định hướng nào? Cần có những giải pháp cụ thể nào để đổi mới QLNN đối với giảng viên trường ĐHCL trong giai đoạn hiện nay?

Hệ thống giả thuyết nghiên cứu gồm:

  1. QLNN đối với giảng viên trường ĐHCL là yêu cầu tất yếu khách quan trong bối cảnh đổi mới GDĐH, đòi hỏi khoa học pháp lý phải nghiên cứu, luận giải về mặt khoa học cả về lý luận và thực tiễn nhằm góp phần đổi mới cơ chế quản lý, chính sách, phát triển đội ngũ giảng viên trường ĐHCL.
  2. Các quy định pháp luật đối với giảng viên được ban hành thành hệ thống tương đối đầy đủ nhưng còn mâu thuẫn, chồng chéo, có thời điểm chưa kịp thời; công tác QLNN đối với giảng viên trường ĐHCL đạt được kết quả nhất định song vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập chưa được làm rõ.
  3. Các giải pháp đổi mới QLNN đối với giảng viên trong mối quan hệ với xu thế tự chủ đại học (đặc biệt là tự chủ nhân sự) chưa được tiếp cận đồng bộ, tổng thể; cần thiết phải xây dựng mô hình QLNN theo cơ chế mới, tăng cường phân cấp và phân định rõ thẩm quyền.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động QLNN đối với đội ngũ giảng viên các trường ĐHCL và thực tiễn triển khai hoạt động QLNN đối với đội ngũ này ở Việt Nam.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào pháp luật về giảng viên trường ĐHCL và các nội dung QLNN đối với đội ngũ giảng viên các trường ĐHCL.
  • Phạm vi không gian: Các trường ĐHCL tại Việt Nam (không bao gồm các trường đại học thuộc khối công an và quân đội).
  • Phạm vi thời gian: Quá trình đổi mới đất nước, tập trung chủ yếu từ năm 2010 đến nay (tính từ thời điểm Luật Viên chức năm 2010 được ban hành).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trước đây

Tác giả luận án tiến hành tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo các nhóm nội dung chính:

Nhóm hướng nghiên cứu Tác giả và công trình tiêu biểu Nội dung tiếp cận chính
Lý luận về QLNN và phân cấp quản lý - Nguyễn Ngọc Hiến (2003), Giáo trình Hành chính công
- Phạm Hồng Thái, Phân cấp quản lý nhà nước ở Việt Nam: thực trạng và triển vọng
- Võ Kim Sơn, Phân cấp quản lý nhà nước: lý luận và thực tiễn
- Nguyễn Thị Thu Hà, Nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về giáo dục đại học
- Ngô Minh Tuấn (2013), Quản lý nhà nước đối với phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam: vấn đề và giải pháp
- Đặng Thị Minh, Chính sách phát triển các trường đại học tư thục ở Việt Nam
Cung cấp nền tảng lý luận về hành chính công, phân cấp, thẩm quyền QLNN, chức năng quản lý nguồn nhân lực chất lượng cao và phân biệt mô hình ĐHCL với đại học tư thục.
Nghiên cứu trực tiếp theo ngành/địa phương - Trần Tuấn Duy (2019) (trường chính trị vùng Đông Nam Bộ)
- Lê Thị Bích Liên (2018) (Trường Đại học Hà Nội)
- Lê Thị Nga (2014) (ĐHCL tại TP. Hồ Chí Minh)
Phân tích QLNN đối với giảng viên trong phạm vi địa bàn hoặc loại hình trường cụ thể; nhận diện các khâu tuyển dụng, đào tạo, đánh giá.
Thực trạng GDĐH và giảng viên (quốc tế & trong nước) - David E. Bloom; Donald E. Hanna; Philip G. Altbach (nghiên cứu GDĐH châu Á, Trung Quốc, Ấn Độ)
- Martin Hayden & Lâm Quang Thiệp; Ben Wilkinson; Michael W. Marine; Lee Little Soldier
- Ngân hàng Thế giới & ILSSA; Báo cáo Quỹ VEF (2014)
- Đỗ Minh Cương & Nguyễn Thị Doan (2001); Nguyễn Thị Thu Hương (2011); Lê Thị Phương Nam (2010); Hồ Thị Quỳnh Nga (2012); Phạm Văn Thuần (2015)
Đánh giá bối cảnh toàn cầu hóa, áp lực thu nhập, quan hệ học thuật, tình trạng quá tải giờ dạy, thiếu hụt thời gian nghiên cứu khoa học; thực trạng quản lý giảng viên gắn với tự chủ và trách nhiệm xã hội.
Giải pháp hoàn thiện pháp luật, chính sách và nghiệp vụ - Nguyễn Đức Cường (2009); Lê Thị Kim Dung (2012); Nguyễn Thị Thu Hương (2015)
- Martin Hayden; Vũ Đức Lễ (2017); Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2009); Trần Khánh Đức (2009); Ngô Bảo Châu (2014)
- Phạm Thị Ly; Phạm Văn Thuần; Leung; Lê Quang Sơn (2010); Nguyễn Hữu Lam; Thái Thị Tuyết Dung (2018); Vũ Hải Uyên (2018); Vũ Quang Tuyên (2014)
Đề xuất sửa đổi pháp luật viên chức, GDĐH; phân cấp quản lý; đổi mới chính sách đãi ngộ, thu nhập linh hoạt; quy trình đánh giá 6 bước theo năng lực và vị trí việc làm; công tác thanh tra giáo dục.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết

Từ việc điểm luận tài liệu, luận án xác định các khoảng trống khoa học cần bổ khuyết:

  • Khái niệm và hệ thống lý luận về QLNN đối với giảng viên trường ĐHCL chưa được tiếp cận hoàn chỉnh dưới góc độ khoa học pháp lý; vai trò và các yếu tố cấu thành hoạt động quản lý đối với đối tượng đặc thù này chưa được nhận diện đầy đủ.
  • Thiếu các công trình nghiên cứu hệ thống, cập nhật số liệu trên quy mô toàn quốc về thực trạng QLNN đối với đội ngũ giảng viên ĐHCL từ sau khi Luật Viên chức năm 2010 có hiệu lực.
  • Chưa có công trình giải quyết toàn diện mối quan hệ giữa QLNN và việc bảo đảm quyền tự chủ nhân sự của trường ĐHCL theo tinh thần của Luật Giáo dục đại học sửa đổi năm 2018 (có hiệu lực từ ngày 01/07/2019).
  • Nội dung thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật đối với hoạt động QLNN về giảng viên chưa được nghiên cứu thấu đáo.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận và hệ khái niệm

  • Luận án xây dựng trên nền tảng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin.
  • Quán triệt các quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, chính sách của Nhà nước và tư tưởng Hồ Chí Minh về GDĐH, vị trí của người thầy và công tác quản lý giáo dục.
  • Hệ khái niệm công cụ gồm: Trường đại học công lập, Giảng viên trường đại học công lập (viên chức chuyên môn giảng dạy và nghiên cứu), Quản lý nhà nước đối với giảng viên, Pháp luật về giảng viên trường đại học công lập, Tự chủ đại học và Phân cấp quản lý.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành luật học và khoa học xã hội:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Được áp dụng xuyên suốt toàn bộ các chương, mục nhằm phân tích các văn bản quy phạm pháp luật, tổng hợp các quan điểm lý luận và thực tiễn quản lý.
  • Phương pháp cấu trúc - hệ thống: Áp dụng chủ yếu trong Chương 2 và Chương 3 để nhận diện, đánh giá hoạt động QLNN đối với giảng viên trong mối quan hệ hữu cơ với toàn bộ hệ thống quản lý GDĐH.
  • Phương pháp luật học so sánh: Áp dụng chủ yếu trong Chương 4 để phân tích các mô hình pháp lý về QLNN đối với giảng viên đại học ở một số quốc gia trên thế giới, rút ra giá trị tham khảo cho Việt Nam.
  • Phương pháp thống kê: Áp dụng trong Chương 1 và Chương 3 nhằm tập hợp tư liệu nghiên cứu và đánh giá thực trạng đội ngũ giảng viên, thực trạng áp dụng pháp luật.
  • Phương pháp chuyên gia: Áp dụng tại Chương 4 để lấy ý kiến, làm rõ tính khả thi của các đề xuất đổi mới chính sách, pháp luật.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

  • Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật: Hiến pháp, Luật Giáo dục, Luật Giáo dục đại học (năm 2012 và sửa đổi năm 2018), Luật Viên chức năm 2010, Bộ luật Lao động, các Nghị định của Chính phủ, Thông tư của Bộ Giáo dục và Đào tạo (tiêu biểu như Thông tư số 47/2014/TT-BGDĐT về chế độ làm việc đối với giảng viên).
  • Các số liệu, báo cáo tổng kết của Bộ Giáo dục và Đào tạo, các bộ, ngành chủ quản, các trường ĐHCL; báo cáo của các tổ chức quốc tế (Ngân hàng Thế giới, UNESCO, VEF).
  • Các công trình khoa học chuyên khảo, luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ và bài báo khoa học chuyên ngành trong và ngoài nước.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về quản lý nhà nước đối với giảng viên các trường đại học công lập ở Việt Nam

Chương 1 hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài. Nội dung chương phân tích sâu 3 nhóm vấn đề: lý luận về QLNN đối với giảng viên, thực trạng công tác quản lý đội ngũ giảng viên, và các nhóm giải pháp đã được đề xuất (về thể chế, bộ máy, đãi ngộ, tuyển dụng - đánh giá, đào tạo bồi dưỡng, thanh tra kiểm tra). Trên cơ sở đó, tác giả chỉ rõ những kết quả cần kế thừa và luận giải cụ thể 5 khoảng trống lý luận - thực tiễn mà đề tài tập trung giải quyết, đồng thời xác lập hệ thống câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết khoa học của luận án.

Chương 2: Lý luận về quản lý nhà nước đối với giảng viên các trường đại học công lập ở Việt Nam

Chương 2 làm sáng tỏ các vấn đề lý luận cốt lõi về trường ĐHCL, giảng viên ĐHCL và hoạt động QLNN đối với đội ngũ này.

1. Khái niệm và đặc trưng của trường ĐHCL so với trường đại học tư thục

Luận án chỉ ra 4 điểm khác biệt cơ bản về mặt pháp lý và tổ chức:

Tiêu chí phân biệt Trường đại học công lập Trường đại học tư thục
Chủ thể thành lập và sở hữu Do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập; thuộc sở hữu của Nhà nước. Do tổ chức xã hội, nghề nghiệp, kinh tế hoặc cá nhân đầu tư thành lập; thuộc sở hữu tư nhân/tổ chức.
Cơ chế quản lý và Hội đồng trường Chịu sự quản lý của cơ quan chủ quản (Bộ, ngành, UBND tỉnh). Hội đồng trường đại diện chủ sở hữu nhà nước. Tự chủ quyết định bộ máy, tài chính. Hội đồng trường đại diện cho nhà đầu tư và các bên góp vốn.
Cơ sở vật chất và tài chính Nhà nước đầu tư đất đai, cơ sở vật chất, cấp ngân sách chi thường xuyên; tự chủ tài chính theo khuôn khổ định mức nhà nước. Hoạt động hoàn toàn bằng vốn ngoài ngân sách; tự chủ tài chính, tự cân đối thu chi, tự huy động vốn.
Vị trí và vai trò Thực hiện sứ mạng bảo đảm lợi ích công về GDĐH, tạo cơ hội bình đẳng tiếp cận, giữ vai trò định hướng hệ thống. Cung ứng dịch vụ giáo dục theo nhu cầu xã hội và nguyên tắc thị trường giáo dục.

2. Địa vị pháp lý của giảng viên trường ĐHCL

  • Giảng viên ĐHCL là viên chức nhà nước chuyên trách giảng dạy và nghiên cứu khoa học, hưởng lương theo bảng ngạch bậc nhà nước, thực hiện chế độ hợp đồng làm việc theo Luật Viên chức 2010. Khác với giảng viên đại học tư thục (làm việc theo hợp đồng lao động theo Bộ luật Lao động, hưởng lương theo thỏa thuận).
  • Trình độ chuẩn của giảng viên giảng dạy đại học là từ thạc sĩ trở lên và phải có chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm. Giảng viên có quyền và nghĩa vụ nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, được hưởng chế độ vượt giờ chuẩn, chế độ kéo dài thời gian công tác đối với người có học vị tiến sĩ.

3. Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước và phân công thẩm quyền

  • Chính phủ: Cơ quan hành chính cao nhất, thống nhất QLNN về GDĐH trên phạm vi cả nước.
  • Bộ Giáo dục và Đào tạo: Chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện QLNN về GDĐH; quy định chuẩn nghề nghiệp nhà giáo, vị trí việc làm, quy chế thi/xét thăng hạng chức danh nghề nghiệp, hướng dẫn chế độ chính sách.
  • Bộ, cơ quan ngang bộ: Phối hợp với Bộ GD&ĐT quản lý các trường ĐHCL trực thuộc ngành; dự báo nhu cầu nhân lực ngành và giám sát chất lượng.
  • Ủy ban nhân dân cấp tỉnh: Thực hiện QLNN theo phân cấp của Chính phủ đối với các trường ĐHCL trực thuộc địa phương và trên địa bàn.

4. Đặc điểm và vai trò của QLNN đối với giảng viên trường ĐHCL

  • 3 Đặc điểm cơ bản:
    1. Là hoạt động QLNN đối với viên chức giáo dục (gắn liền với ngạch bậc, thi thăng hạng, phụ cấp thâm niên, phụ cấp đứng lớp từ ngân sách).
    2. Là hoạt động quản lý sử dụng quyền lực nhà nước do các cơ quan công quyền thực hiện (tập trung vào định hướng, tạo hành lang pháp lý, thanh tra kiểm tra thay vì can thiệp trực tiếp vào quản trị nội bộ).
    3. Nhằm mục tiêu nâng cao chất lượng dịch vụ sự nghiệp giáo dục công (mềm dẻo, linh hoạt hơn so với quản lý công chức hành chính, tạo không gian tự do học thuật).
  • 4 Vai trò của QLNN: Giữ vai trò định hướng phát triển; Bảo đảm quyền lợi, trách nhiệm và chất lượng giảng viên; Can thiệp trực tiếp và điều tiết phát triển nguồn nhân lực; Làm cơ sở kiểm nghiệm và hoàn thiện hệ thống pháp luật về viên chức.

5. Pháp luật và quy hoạch đội ngũ giảng viên ĐHCL

  • Pháp luật về giảng viên thể chế hóa trách nhiệm nhà nước, bảo đảm quyền con người, gắn với cơ chế tự chủ và hài hòa giữa quy phạm pháp luật với chuẩn mực đạo đức nhà giáo.
  • Quy hoạch giảng viên ĐHCL là nội dung trọng tâm của QLNN, bao gồm: quy hoạch số lượng - cơ cấu theo mạng lưới ngành đào tạo; quy hoạch nguồn bổ sung thu hút nhân tài; quy hoạch đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn, học hàm, học vị.

Chương 3: Thực trạng quản lý nhà nước đối với giảng viên các trường đại học công lập ở Việt Nam

Chương 3 tập trung phân tích thực tiễn thực hiện pháp luật và công tác QLNN đối với giảng viên ĐHCL giai đoạn từ 2010 đến nay:

  • Đánh giá hệ thống văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh giảng viên: việc ban hành các quy định về tiêu chuẩn chức danh, định mức lao động, chế độ làm việc theo Thông tư 47/2014/TT-BGDĐT và các chính sách đào tạo, bồi dưỡng.
  • Phân tích thực trạng thực hiện các khâu QLNN: quy hoạch mạng lưới và đội ngũ; công tác tuyển dụng và phân bổ biên chế; cơ chế sử dụng và bổ nhiệm chức danh; việc thực hiện chính sách tiền lương, phụ cấp đứng lớp, phụ cấp thâm niên nghề; công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm.
  • Nhận diện những kết quả đạt được: đội ngũ giảng viên tăng về số lượng, từng bước chuẩn hóa trình độ chuyên môn (tỷ lệ tiến sĩ, thạc sĩ tăng), khuôn khổ pháp lý dần hoàn thiện theo hướng trao quyền tự chủ.
  • Chỉ ra các hạn chế và nguyên nhân: sự phân tán, chồng chéo giữa Luật Viên chức và Luật Giáo dục đại học; cơ chế quản lý biên chế và thang bảng lương còn mang tính bình quân, chưa tạo động lực đột phá; công tác quy hoạch còn thiếu tính dự báo chiến lược; hoạt động thanh tra chuyên ngành còn mỏng; cơ chế tự chủ về nhân sự tại các trường ĐHCL gặp nhiều rào cản từ thủ tục hành chính của cơ quan chủ quản.

Chương 4: Quan điểm và giải pháp đổi mới quản lý nhà nước đối với đội ngũ giảng viên các trường đại học công lập ở Việt Nam hiện nay

Chương 4 xây dựng hệ thống quan điểm và giải pháp đồng bộ:

  • Phân tích kinh nghiệm quốc tế và bài học rút ra từ các mô hình quản lý giảng viên đại học trên thế giới (về tự do học thuật, cơ chế hợp đồng, thang lương linh hoạt, tiêu chuẩn đánh giá theo kết quả đầu ra).
  • Xác định quan điểm đổi mới: chuyển từ quản lý hành chính tập trung sang quản trị kiến tạo, định hướng và giám sát; gắn quản lý giảng viên với việc thực thi đầy đủ quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của trường ĐHCL theo Luật Giáo dục đại học sửa đổi năm 2018; bảo đảm hài hòa giữa quyền lợi của giảng viên và trách nhiệm giải trình với xã hội.
  • Đề xuất các nhóm giải pháp cụ thể:
    1. Hoàn thiện thể chế pháp lý: Rà soát, sửa đổi các quy định chồng chéo giữa Luật Viên chức và pháp luật GDĐH; ban hành văn bản hướng dẫn chi tiết về tự chủ nhân sự, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp giảng viên.
    2. Đổi mới phân cấp quản lý: Phân định rõ trách nhiệm giữa Bộ GD&ĐT, các bộ chủ quản và UBND cấp tỉnh; xóa bỏ cơ chế can thiệp hành chính trực tiếp vào công tác tuyển dụng, bổ nhiệm của trường ĐHCL đã đạt chuẩn tự chủ.
    3. Đổi mới cơ chế tuyển dụng, sử dụng và đánh giá: Áp dụng cơ chế tuyển dụng cạnh tranh, đánh giá giảng viên theo vị trí việc làm và kết quả thực hiện nhiệm vụ (KPIs); xây dựng quy trình đánh giá đa chiều.
    4. Đổi mới chính sách đãi ngộ và tạo động lực: Thực hiện cơ chế trả lương linh hoạt dựa trên năng lực và đóng góp khoa học, nới lỏng khung thu nhập ngoài ngân sách; có chính sách thu hút nhà khoa học xuất sắc.
    5. Nâng cao hiệu lực thanh tra, kiểm tra: Đẩy mạnh thanh tra chuyên ngành, kiểm toán trách nhiệm giải trình và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm chế độ, chính sách đối với giảng viên.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận

  • Là công trình nghiên cứu chuyên khảo tiếp cận toàn diện, có hệ thống dưới góc độ khoa học pháp lý về hoạt động QLNN đối với giảng viên các trường ĐHCL tại Việt Nam.
  • Làm rõ khái niệm, bản chất, 3 đặc điểm đặc thù (quản lý viên chức giáo dục, sử dụng quyền lực nhà nước, hướng tới dịch vụ công) và 4 vai trò cốt lõi của QLNN đối với giảng viên trường ĐHCL trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
  • Luận giải cơ sở khoa học của việc chuyển đổi phương thức QLNN từ can thiệp hành chính sang quản lý nhà nước gián tiếp, kiến tạo và giám sát, gắn liền với quyền tự chủ đại học.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

  • Đánh giá khách quan, có hệ thống thực trạng áp dụng pháp luật và công tác QLNN đối với đội ngũ giảng viên ĐHCL từ năm 2010 đến nay; chỉ rõ những mâu thuẫn giữa quy định về viên chức và yêu cầu đổi mới GDĐH.
  • Cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn phục vụ việc triển khai thi hành Luật Giáo dục đại học sửa đổi năm 2018 và đề xuất định hướng sửa đổi Luật Viên chức năm 2010.
  • Xây dựng hệ thống giải pháp đồng bộ từ hoàn thiện khung pháp lý, phân cấp quản lý, đổi mới cơ chế tuyển dụng - đánh giá theo vị trí việc làm, đến chính sách thu nhập và tăng cường thanh tra, kiểm tra.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu

  • Phạm vi nghiên cứu loại trừ các trường đại học thuộc khối lực lượng vũ trang (công an, quân đội) do tính chất đặc thù về tổ chức và nhân sự.
  • Luận án tập trung khảo sát chủ yếu từ mốc ban hành Luật Viên chức 2010 đến giai đoạn Luật Giáo dục đại học sửa đổi 2018 mới bắt đầu có hiệu lực (01/07/2019), do đó việc đo lường tác động dài hạn của các nghị định hướng dẫn tự chủ mới ban hành còn có giới hạn về độ trễ thực tiễn.

Hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Nghiên cứu sâu cơ chế QLNN đối với giảng viên tại các cơ sở giáo dục đại học chuyển đổi hoàn toàn sang mô hình tự chủ tài chính toàn phần và tự chủ quốc tế.
  • Khảo sát, đánh giá thực tiễn thi hành các văn bản hướng dẫn Luật Giáo dục đại học sửa đổi năm 2018 đối với hợp đồng lao động và chế độ làm việc của giảng viên sau giai đoạn chuyển tiếp viên chức.

Giá trị tham khảo

  • Đối với cơ quan quản lý nhà nước và nhà lập pháp: Cung cấp cơ sở khoa học và căn cứ thực tiễn trực tiếp cho Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Nội vụ và Ủy ban Văn hóa, Giáo dục của Quốc hội trong việc rà soát, hoàn thiện pháp luật về viên chức giáo dục và các chính sách tự chủ nhân sự đại học.
  • Đối với cơ sở giáo dục đại học công lập: Giúp Hội đồng trường, Ban Giám hiệu các trường ĐHCL xây dựng quy chế nội bộ về tuyển dụng, hợp đồng làm việc, phân định ngạch bậc và xây dựng quy trình đánh giá giảng viên theo kết quả công việc và vị trí việc làm.
  • Đối với người nghiên cứu và giảng dạy: Là tài liệu tham khảo chuyên ngành hữu ích cho nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên thuộc ngành Luật Hành chính, Luật Giáo dục và Khoa học Quản lý công khi nghiên cứu về quản trị đại học và chế độ pháp lý của nhà giáo.

Câu hỏi thường gặp

1. Giảng viên trường đại học công lập khác biệt như thế nào với giảng viên trường đại học tư thục về mặt pháp lý?

Giảng viên trường ĐHCL là viên chức nhà nước, làm việc theo hợp đồng làm việc và chịu sự điều chỉnh của Luật Viên chức năm 2010; hưởng lương theo thang bảng ngạch bậc nhà nước và được hưởng các phụ cấp công (phụ cấp thâm niên, phụ cấp đứng lớp). Ngược lại, giảng viên trường đại học tư thục là người lao động làm việc theo hợp đồng lao động chịu sự điều chỉnh của Bộ luật Lao động; tiền lương và các chế độ đãi ngộ do thỏa thuận giữa giảng viên và Hội đồng trường tư thục, không thuộc biên chế viên chức nhà nước.

2. Các cơ quan nào tham gia vào hệ thống quản lý nhà nước đối với giảng viên trường ĐHCL ở Việt Nam?

Hệ thống gồm: Chính phủ (thống nhất QLNN cao nhất); Bộ Giáo dục và Đào tạo (chịu trách nhiệm chính trước Chính phủ, ban hành chuẩn nghề nghiệp, chế độ làm việc, danh mục vị trí việc làm); các Bộ, cơ quan ngang bộ (quản lý trường trực thuộc ngành, dự báo nhu cầu nhân lực); và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (thực hiện QLNN theo phân cấp đối với các trường trực thuộc địa phương và trên địa bàn).

3. Những hạn chế lớn nhất trong hệ thống pháp luật điều chỉnh giảng viên ĐHCL hiện nay là gì?

Văn bản pháp luật do nhiều cơ quan ban hành ở nhiều thời điểm cùng điều chỉnh giảng viên (viên chức, giáo dục, GDĐH, lao động, bảo hiểm), dẫn đến một số quy định bị phân tán, mâu thuẫn hoặc chậm được cụ thể hóa. Quy định về quản lý giảng viên còn nặng về thủ tục hành chính, ràng buộc chỉ tiêu biên chế cứng nhắc, chưa tương thích đầy đủ với quyền tự chủ nhân sự của trường ĐHCL theo Luật Giáo dục đại học sửa đổi năm 2018.

4. Luận án sử dụng những phương pháp nghiên cứu chủ yếu nào?

Luận án kết hợp phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử cùng 5 phương pháp cụ thể: phương pháp phân tích - tổng hợp (toàn bộ luận án), cấu trúc - hệ thống (Chương 2 và 3), luật học so sánh (Chương 4), thống kê (Chương 1 và 3) và phương pháp chuyên gia (Chương 4).

5. Tiêu chuẩn trình độ chuẩn của chức danh giảng viên giảng dạy đại học theo quy định hiện hành là gì?

Theo quy định của pháp luật về giáo dục đại học được phân tích trong luận án, trình độ chuẩn của chức danh giảng viên giảng dạy trình độ đại học phải là thạc sĩ trở lên và phải có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm dành cho giảng viên.


Kết luận

Luận án "Quản lý nhà nước đối với giảng viên các trường đại học công lập ở Việt Nam hiện nay" là công trình khoa học pháp lý nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống về cơ sở lý luận và thực tiễn QLNN đối với đội ngũ giảng viên ĐHCL. Bằng việc phân tích các đặc trưng pháp lý của giảng viên ĐHCL dưới tư cách là viên chức nhà nước và làm rõ thẩm quyền của hệ thống cơ quan QLNN, luận án đã chỉ ra các điểm nghẽn thể chế trong bối cảnh tự chủ đại học. Hệ thống quan điểm và giải pháp được luận án đề xuất cung cấp các luận cứ khoa học tin cậy, đóng góp thiết thực cho việc hoàn thiện thể chế pháp luật về viên chức, giáo dục đại học và nâng cao hiệu quả quản trị nguồn nhân lực chất lượng cao tại Việt Nam.