Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM LỚP VÀ QUẢN LÍ CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM LỚP Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRONG BỐI CẢNH ĐỔI MỚI GIÁO DỤC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các công trình nghiên cứu về công tác chủ nhiệm lớp Phát triển toàn diện nhân cách của học sinh, chuẩn bị cho học sinh đầy đủ những phẩm chất và năng lực cần thiết cho các em tiếp tục học cao lên hoặc tham gia vào thị trường lao động là mục tiêu giáo dục của mỗi nhà trường THPT. Kể từ khi giành được độc lập đến nay đất nước ta đã trải qua ba lần cải cách giáo dục và đổi mới liên tục.
Các công trình nghiên cứu về giáo dục ngày càng nhiều. Các công trình nghiên cứu về đội ngũ giáo viên làm công tác chủ nhiệm lớp và công tác chủ nhiệm lớp được nhiều nhà quản lí giáo dục và các nhà khoa học trong nước nghiên cứu, thảo luận. Công tác chủ nhiệm lớp là công việc chiếm nhiều thời gian và công sức của người giáo viên chủ nhiệm lớp. Nó đòi hỏi người giáo viên chủ nhiệm vừa phải có năng lực vừa phải có lòng nhiệt tình, tâm huyết với sự nghiệp giáo dục.
GVCN có tầm ảnh hưởng rất lớn đến học sinh trong lớp học. Vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của người GVCN lớp đã được qui định ở trong nhiều văn bản pháp lí của các cấp quản lí giáo dục [8], [9], [10]. Các nhiệm vụ khác của giáo dục phổ thông liên quan đến công tác chủ nhiệm lớp cũng đã được nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới phương thức giáo dục đạo đức, giáo dục ngoài giờ lên lớp, giáo dục hướng nghiệp theo tinh thần lồng ghép và tích hợp; chú trọng giáo dục giá trị, giáo dục kỹ năng sống cho học sinh” [11]. Xuất phát từ quan điểm chỉ đạo này và trước yêu cầu thực tế, nhiều công trình nghiên cứu về công tác chủ nhiệm lớp ra đời đáp ứng đòi hỏi bức thiết của công cuộc đổi mới giáo dục, chấn hưng nền giáo dục của nước nhà.
Theo nhóm tác giả Nguyễn Thanh Bình (chủ biên), trong cuốn “Một số vấn đề trong công tác chủ nhiệm lớp ở trường THPT hiện nay” [5], công tác chủ nhiệm lớp bao gồm 15 nội dung cơ bản. Bao gồm: Tìm hiểu và nắm vững đối tượng giáo dục; lập kế hoạch chủ nhiệm; giáo dục kỷ luật tích cực; xây dựng tập thể HS và môi trường lớp học thân thiện; tiếp cận cá nhân trong giáo dục học sinh; giáo dục học sinh cá biệt, học sinh có hành vi không mong đợi; tổ chức hoạt động giáo dục; giáo dục kỹ năng sống; hướng nghiệp cho học sinh; kỹ năng xử lí tình huống thực tiễn; đánh giá 9 học sinh; sử dụng công nghệ thông tin trong quản lí hồ sơ học sinh; liên kết các lực lượng trong nhà trường để giáo dục học sinh; phối hợp với gia đình để giáo dục học sinh; giáo viên chủ nhiệm với các lực lượng xã hội khác. Tác giả Hà Nhật Thăng (Chủ biên) [55], đã phân tích bốn nội dung lớn mà người GVCN lớp cần phải thực hiện trong công tác chủ nhiệm lớp của mình: Những công việc của GVCN lớp với tập thể học sinh; công tác phối hợp của GVCN lớp với các lực lượng giáo dục trong nhà trường; công tác phối hợp của GVCN lớp với việc liên kết các lực lượng giáo dục ngoài nhà trường; tổ chức các hoạt động giáo dục. Trong những năm gần đây vấn đề phát triển năng lực nghề nghiệp giáo viên đã được nhiều nhà khoa học giáo dục nghiên cứu đặc biệt là những nội dung liên quan đến công tác chủ nhiệm lớp [26, tr 19].
Hiểu được “Đặc điểm tâm lý của học sinh trung học phổ thông” [53], làm rõ hoàn cảnh xã hội của sự phát triển tâm lí lứa tuổi học sinh trung học phổ thông, các đặc điểm tâm lí của học sinh trung học phổ thông về các mặt: nhận thức - trí tuệ, tình cảm, nhân cách và các yếu tổ ảnh hưởng đến tâm lí của lứa tuổi này là tiền đề đầu tiên để tiến hành các hoạt động giáo dục học sinh của GVCN lớp. Các tác giả cũng hướng dẫn “Kĩ năng tham vấn, tư vấn, hướng dẫn và một số phương pháp tiếp cận cơ bản trong hướng dẫn cho học sinh THPT” [41]. Đối với học sinh THPT dân tộc thiểu số công tác chủ nhiệm lớp còn cần phải “Chăm sóc, hỗ trợ tâm lí học sinh nữ, học sinh người dân tộc thiểu số trong trường THPT” [28]. Quá trình học tập và rèn luyện ở trường THPT học sinh gặp nhiều căng thẳng.
Giáo viên, GVCN lớp cần hiểu về nguyên nhân và sự ảnh hưởng của nó đến học tập của học sinh THPT, phương pháp và cách thức giảm nhẹ sự ảnh hưởng của sự căng thẳng đó để “Khắc phục trạng thái tâm lí căng thẳng trong học tập của học sinh THPT” [66]. Trong giáo dục, tình huống sư phạm luôn thường xuyên xảy ra, đặc biệt trong công tác chủ chủ nhiệm lớp. GVCN cần biết phân tích thông tin, ra quyết định đúng để ứng xử lí có hiệu quả các “tình huống sư phạm trong công tác chủ nhiệm lớp ở trường THPT” [27]. Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp thực sự là một bộ phận hữu cơ của hệ thống hoạt động giáo dục ở trường THPT.
Để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện thì vai trò của người GV, GVCN lớp trong quá trình giáo dục học sinh là rất quan trọng. Người GVCN lớp phải giỏi cả về chuyên môn và kỹ năng, nghiệp vụ sư phạm, nhất là kỹ năng nghiệp vụ “Tổ chức hoạt động giáo dục NGLL ở trường THPT” [54], “Tổ chức các hoạt động tập thể của học sinh THPT” [47], “Giáo dục học sinh THPT qua các hoạt động giáo 10 dục” [34] để giúp học sinh phát huy tính chủ động, sáng tạo, linh hoạt trong các tình huống thuật sự các em sẽ gặp ở ngoài đời. Trong xã hội hiện đại, kĩ năng sống là năng lực thiết yếu để có thể ứng phó với những rủi ro, thách thức mà con người gặp phải. Kĩ năng sống không chỉ góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của cá nhân mà còn giúp giảm thiểu các tệ nạn, các vấn đề xã hội.
Vì vậy “Giáo dục Kĩ năng sống cho học sinh THPT” [6], “Giáo dục giá trị sống” [51], “Giáo dục hoà nhập trong giáo dục THPT” [39] là yêu cầu đối với đội ngũ giáo viên đang trực tiếp giảng dạy, giáo viên làm công tác chủ nhiệm lớp. Để thực hiện được những nhiệm vụ đó, người GVCN lớp cần hình thành kĩ năng “xây dụng kế hoạch phối hợp giữa giáo viên với gia đình và cộng đồng trong công tác giáo dục học sinh THPT” [48], kĩ năng “Phối hợp với các tổ chức xã hội trong công tác giáo dục” [49]. Một trong những khâu quan trọng trong quá trình giáo dục học sinh là khâu “Đánh giá kết quả rèn luyện đạo đức của học sinh THPT”[36]. Nguyên tắc đánh giá, quy định chung của Bộ Giáo dục và Đào tạo về vấn đề đánh giá, xếp loại hạnh kiểm học sinh; phương pháp đánh giá kết quả rèn luyện đạo đức cửa học sinh là những yêu cầu, những nhiệm vụ mà mỗi GV, GVCN lớp phải nắm vững và thực hiện đúng.
Những công trình nghiên cứu này đã góp phần làm rõ nội dung và phương pháp thực hiện công tác chủ nhiệm lớp. Đây cũng là tiền đề để đề ra những biện pháp quản lí công tác chủ nhiệm lớp thích hợp trong chương ba của luận án. Các công trình nghiên cứu về quản lí công tác chủ nhiệm lớp và quản lí các hoạt động liên quan đến công tác chủ nhiệm lớp Những năm đầu của thế kỷ XXI, nhờ có cuộc cách mạng khoa học và công nghệ lần thứ tư, cả thế giới có sự thay đổi nhanh chóng. Những thay đổi của thế giới đặt ra cho giáo dục nhiều cơ hội nhưng cũng không ít thách thức.
Để phát triển đầy đủ năng lực và phẩm chất cho học sinh, ngoài các hoạt động giáo dục chính khóa, nhiều nhà trường đã chú ý đến các hoạt động giáo dục khác nữa. Các hoạt động như “Hoạt động ngoại khóa”, “Hoạt động sau giờ học hoặc bên ngoài lớp học”, “Cuộc sống bên ngoài lớp học” rất đa dạng ở nhiều lĩnh vực như học thuật, thể dục thể thao, xã hội, từ thiện, dịch vụ cộng đồng, các công việc tự nguyện, sở thích,… kỳ học quân đội, trải nghiệm, sáng tạo. Sự thành công của các hoạt động này có phần đóng góp không nhỏ của giáo viên chủ nhiệm lớp. Quản lí các hoạt động đó như thế nào để đạt được hiệu quả nhất là thách thức lớn đối với mỗi người Hiệu trưởng trường THPT.
Các biện pháp mà Hiệu trưởng thường dùng [97], [98], [100] là tư 11 vấn, hướng dẫn công tác tổ chức cho giáo viên chủ nhiệm lớp. Các chuyên gia nghiên cứu giáo dục ở Ca-na-đa [101] đề xuất rằng để quản lí tốt công tác chủ nhiệm lớp, Hiệu trưởng cần chú ý trong các khâu lên kế hoạch, triển khai thực hiện và kiểm tra giám sát; đặc biệt là khâu tổ chức các hoạt động đa dạng để tăng thêm cơ hội mở rộng kiến thức cho chương trình học chính thức trong ngày cũng như tăng cường giáo dục toàn diện học sinh. Một trong những công cụ quản lí xã hội nói chung, quản lí giáo dục và quản lí công tác chủ nhiệm lớp nói riêng là những văn bản pháp qui của các cơ quan nhà nước. Trên cơ sở pháp lí đó, Hiệu trưởng quản lí hoạt động của giáo viên, giáo viên làm công tác chủ nhiệm lớp, công tác tư vấn cho học sinh.
Ban lãnh đạo trường học châu Âu đã thông qua quy tắc chung của trường phổ thông châu Âu (2015) [77], chính quyền bang Victoria nước Úc (2013) [92] đã có quy định cấp nhà nước về công tác của giáo viên nói chung và của giáo viên chủ nhiệm nói riêng, Nam Úc (2012) [81] có Luật Giáo dục số 42. Về quản lí công tác chủ nhiệm lớp, Hiệu trưởng yêu cầu giáo viên hàng năm phải chuẩn bị kế hoạch hoạt động của mình bằng văn bản và gửi cho Phó Hiệu trưởng. Kế hoạch hoạt động được lưu giữ tại nhà trường. Ngoài ra văn bản còn phải được lưu giữ bằng bản mềm và được gửi cho nhà quản lí nếu được yêu cầu.
Các Hiệu trưởng trường THPT ở các quốc gia thuộc Liên minh châu Âu lại sử dụng biện pháp đánh giá đối với những công việc do GVCN lớp đảm nhận. Bên cạnh đó, biện pháp tư vấn về phát triển kỹ năng nghề nghiệp cho giáo viên, GVCN lớp cũng được nhiều Hiệu trưởng sử dụng [75].