Chương 1: Một số van dé lý luận và thực tiễn về truyền thông chính sách giáo dục Chương 2: Thực trạng truyền thông chính sách Giáo dục và Đảo tạo trên hệ thống báo chí của ngành giai đoạn 2016 — 2017 Chương 3: Một số vấn đề đặt ra và giải pháp nâng cao chất lượng, hoạt động truyền thông chính sách giáo dục trên hệ thống báo chí của ngành CHUONG 1: MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN VE TRUYEN THONG CHÍNH SÁCH GIÁO DỤC 1.Hệ thống các khái niệm Truyền thông Theo John R. Hober (1954) truyền thông là quá trình trao đổi tư duy và ý tưởng bang lời, con Gerald Miler (1966) cho rằng về cơ bản truyền thông quan tâm nhất tới tình huống hành vi, trong đó nguồn thông tin truyền nội dung đến người nhận với mục đích tác động đến hành vi của họ. Dưới góc độ cấu trúc, Bess Sodel cho rằng truyền thông là một quá trình chuyên đổi từ một tình huống đã có cấu trúc như một tổng thể sang tình huống khác theo một thiết chế có chủ đích. Truyền thông là quá trình trao đồi, tương tác thông tin với nhau về các vấn đề của đời sống cá nhân/ nhóm/ xã hội từ đó tăng vốn hiểu biết chung, hình thành hoặc thay đổi nhận thức, thái độ, chuyên đổi thành hành vi.
Nói cách khác, truyền thông là quá trình liên tục, qua đó chúng ta hiểu được người khác, và làm cho người khác hiểu được chúng ta (Martin P. Adersen 1959 trích theo Frank Dance 1970). Truyền thông là một quá trình liên tục trao đối, chia sẻ thông tin, tình cảm, kỹ năng nhằm tạo sự liên kết lẫn nhau dé dan tới sự thay đổi trong hành vi và nhận thức. Truyền thông ra đời và phát triển do nhu cầu khách quan của xã hội về thông tin giao tiếp của loài người, do trình độ và điều kiện kinh tế - xã hội cũng như sự phát triển của khoa học kỹ thuật.
Tại Hội thảo Khoa học Quốc tế: Truyén thông chính sách - Kinh nghiệm Việt Nam và Hàn Quốc (do Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Báo Đại biểu Nhân dân và Cơ quan Hợp tác quốc tế Hàn Quốc (KOICA) phối hợp đồng tô ngày 1/11/2016 tại Hà Nội) cho rằng: Truyền thông là khái niệm có thê được tiếp cận dưới hai cấp độ: 10 Thứ nhất, truyền thông là hiện tượng xã hội, được nhìn nhận như một quá trình liên tục thông tin, kiến thức, tư tưởng, tình cảm, chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người nhằm gia tăng sự hiểu biết lẫn nhau, thay đôi nhận thức, tiến tới điều chỉnh thái độ và hành vi xã hội. Thư hai, tiếp cận ở bình diện quan điểm cấu trúc chức năng — bản chất xã hội, truyền thông được nhìn nhận như một thiết chế kiến tạo xã hội, là phương tiện và phương thức thông tin giao tiếp xã hội, phương tiện và phương thức kết nối xã hội, là phương tiện và phương thức can thiệp xã hội, là phương tiện và phương thức phục vụ quyền lực chính tri.7ruyén thông là thiết chế xã hội rộng lớn hoạt động trong mối quan hệ với mỗi cá nhân cũng như các thiết chế xã hội khác một cách thường xuyên, liên tục, trong đó, truyền thông đại chúng và báo chí có thể được coi là những hạt nhân có vai trò chi phối sức mạnh, khuynh hướng và tính chất của nền truyền thông xã hội nói chung. Với tư cách là thiết chế kiến tạo xã hội, truyền thông có thé đảm nhận vai trò hết sức quan trọng trong quá trình hình thành và thực thi chính sách công, bao đảm huy động nguồn lực sáng tạo, trí tuệ và cảm xúc của nhân dân trong quá trình phát triển, nhất là bảo đảm phát triển bền vững. Truyén thông đại chúng là một dạng thức truyền thông đặc biệt trong lịch sử loài người - khi mà người truyền thông tin có thể truyền tải thông điệp cho đông đảo quần chúng về số lượng và rộng khắp về địa lý - điều mà các cách thức truyền thông trước đó không thể nào có được.
Nói theo Lerner (1957 trích theo Trần Hữu Quang 2008), thì sự chuyên tiếp từ các hệ thống truyền thông truyền miệng sang các hệ thống truyền thông đại chúng chính là một trong những điều kiện và đặc điểm của quá trình chuyên đổi từ xã hội cổ truyền sang xã hội hiện đại. Có nhiều PTTTĐC ( Phương thức Truyền thông đại chúng) khác nhau, phổ biến nhất là báo in, phát thanh, truyền hình và Internet. Trong thời đại bùng nỗ công nghệ thông tin, các PTTTĐC có vai trò rất quan trọng đối với đời 11 sống xã hội. Trong cuốn sách The Power Elite [6], C.
Wright Mills định nghĩa, các phương tiện truyền thông đại chúng có hai đặc trưng xã hội quan trọng: 1) số ít người có thé liên lac được với rất nhiều người, và 2) công chúng không có cách thức hiệu qua nào dé phản hồi thông tin. Truyền thông đại chúng lúc đó được định nghĩa là quá trình một chiều. Cho đến thời điểm hiện nay - thập kỷ thứ 2 của thé kỷ 21, với sự ra đời của Internet, và mạng xã hội, công chúng không chỉ đơn giản là người tiêu thụ thông tin, là phóng viên, biên tập viên. Thực tế này đã được Henry Jenkins nhắc đến từ năm 1992 với tên gọi: Van hoá tham gia - participatory culture.
Chính sách Từ điển bách khoa Việt Nam đã đưa ra khái niệm về chính sách như sau: “Chính sách là những chuẩn tắc cụ thé dé thực hiện đường lối, nhiệm vụ. Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó. Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa. Nguyễn Minh Thuyết: “Chính sách là đường lối cụ thé của một chính Đảng hoặc một chủ thé quyén lực về một lĩnh vực nhất định cùng các biện pháp, kế hoạch thực hiện đường lối ay.
Cấu trúc của chính sách: đường lối cụ thé (nhằm thực hiện đường lối chung), biện pháp, kế hoạch thực hiện. Chủ thé ban hành Chính sách: chính đảng, co quan quản lý nhà nước, đơn vi, công ty. Như vậy, có thể hiểu: Chính sách là chương trình hành động do các nhà lãnh đạo hay nhà quan ly đề ra dé giải quyết một van dé nào đó thuộc phạm vi thâm quyền của mình. Chính sách công Giáo trình chính sách kinh tế - xã hội, các tác giả đưa ra định nghĩa: “Chính sách kinh tế -xã hội là tổng thể các quan điểm, tư tưởng, các giải pháp và công cụ mà Nhà nước sử dụng đê tác động lên các đổi tượng và 12 khách thé quản lý nhăm giải quyết van dé chính sách, thực hiện những mục tiêu nhất định theo định hướng mục tiêu tổng thể của xã hội”.
Theo TS Dang Ngọc Lợi: “?rước hết, là một chính sách của nhà nước, của chính phủ (do nhà nước, do chính phu đưa ra), là một bộ phận thuộc chỉnh sách kinh té và chỉnh sách nói chung của mỗi nước ”. Những đặc trưng trong mỗi luận cứ của mi tác giải phản ánh chính sách công từ các góc độ khác nhau, song đều hàm chứa những nội dung thể hiện bản chất của chính sách công, có thể tóm lược một số đặc trung của chính sách công như sau: e_ Có một cấp thâm quyền ban hành e Mang lợi ích công © Mọi người đều có quyền tiếp cận (công khai, minh bạch) e© Nhìn chung là bắt buộc thi hành (tuy nhiên cũng có những hình thức không mang tính bắt buộc, thường là các chính sách khuyến khích, hỗ trợ) e Thường thé hiện dưới dang văn bản quy phạm pháp luật, liên quan đến nhau và mang tính hành động, tập trung giải quyết một vấn đề đang đặt ra trong đời sống kinh tế — xã hội theo những mục tiêu xác định. Như vậy: “Chính sách công là thuật ngữ dùng để chỉ một chuỗi các quyết định hoạt động của nhà nước nhằm giải quyết một vấn đề chung đang đặt ra trong đời sống kinh tế - xã hội theo mục tiêu xác định”. Ở Việt Nam, thuật ngữ chính sách công còn mới mẻ, thông thường chúng ta quen dùng cụm từ đồng nghĩa: Chính sách của nhà nước hoặc chính sách của Dang va Nhà nước, vì ở nước ta, Đảng Cộng sản là lực lượng chính trị duy nhất lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo xã hội.
Đảng lãnh đạo Nhà nước thông qua việc vạch ra đường lối, chiến lược, các định hướng chính sách, đó chính là những căn cứ chỉ đạo để Nhà nước ban hành các chính sách công. 13 Như vậy, về thực chất, các chính sách công là do Nhà ban hành nhưng các chính sách này chính là cụ thể hóa đường lối, chiến lược và các định hướng chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhằm phục vụ lợi ích của nhân dân ta. Từ góc độ chủ thể hoạch định chính sách giữa Đảng và Nhà nước mà có các thuật ngữ: Đường lối chính sách, Chủ trương chính sách, Cơ chế chính sách, Chế độ chính sách. Truyền thông chỉnh sách Truyền thông chính sách là quá trình quảng bá, phổ biến, thông tin véchinh sách đến người dân thông qua các phương tiện truyền thông nhằm lan tỏa những chính sách của các cơ quan ban hành chính sách đến với quảng đại quần chúng.
Ở nước ta, truyền thông chính sách hướng tới mục tiêu giúp người dân có thé thực hiện được vai trò “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Nhờ vậy, quyền tiếp cận thông tin của người dân được đảm bảo, đồng thời, trách nhiệm giải trình của các cơ quan công quyền cũng được nâng cao. Trên thực tế, truyền thông tham gia vào tất cả các khâu trong quy trình chính sách từ lên kế hoạch, hoạch định, xây dựng, thực thi đến phân tích và điều chỉnh chính sách. Truyén thông chính sách là quá trình chia sẻ, tương tác xã hội để thông tin chính sách từ chủ thể hoạch định, xây dựng, thực hiện và đánh giá chính sách đến các chủ thể chính sách khác nhằm tăng cường sự hiểu biết, nhận thức và thay đôi hành vi của các chủ thé chính sách dé đạt mục tiêu chính sách.Từ đó, xem xét các biến số về nội dung truyền thông, phương tiện truyền thông, phương pháp truyền thông, tần suất truyền thông, các yếu tố của quá trình truyền thông ảnh hưởng như thế nào đến mỗi khâu của chu trình chính sách.