Chương 1. Cơ sở lý luận kỹ năng tư vấn hướng nghiệp cho học sinh của giáo viên chủ nhiệm Chương 2. Tổ chức và phương pháp nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu thực trạng kỹ năng tư vấn hướng nghiệp cho học sinh Trung học phổ thông của giáo viên chủ nhiệm tại thành phố Rạch giá, tỉnh Kiên Giang. LÝ LUẬN VỀ KỸ NĂNG TƯ VẤN HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CỦA GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM 1.
Lý luận về kỹ năng trong tâm lý học 1. Khái niệm về kỹ năng Theo từ điển Oxfort “kỹ năng” là khả năng để làm tốt một công việc nào đó, thường có được thông qua đào tạo hoặc kinh nghiệm. Theo đó, kỹ năng được hiểu là sự thành thạo, tinh thông về các thao tác, động tác trong quá trình hoàn thành một công việc cụ thể nào đó [58]. Theo Từ điển Giáo dục học, kỹ năng được phân chia thành 2 bậc: Kỹ năng bậc thấp (bậc I) và kỹ năng bậc cao (bậc II).
Kỹ năng bậc thấp là khả năng thực hiện đúng hành động, phù hợp với những mục tiêu và điều kiện cụ thể. Ở bậc này có những kỹ năng hình thành không cần qua luyện tập, nếu biết tận dụng hiểu biết và kỹ năng tương tự đã có để chuyển sang các hành động mới. Kỹ năng bậc cao là khả năng thực hiện hành động, hoạt động một cách thành thạo, linh hoạt, sáng tạo phù hợp với những mục tiêu trong những điều kiện khác nhau. Để đạt tới kỹ năng này cần trải qua giai đoạn luyện tập các kỹ năng đơn giản, sao cho mỗi khi hành động, người ta không còn bận tâm nhiều đến thao tác nữa vì nhiều thao tác đã tự động hóa [15].
Theo tác giả Phạm Thị Diệu Vân dịch từ sách của Lêvitôv đã định nghĩa: “Kỹ năng là sự thực hiện có kết quả một động tác nào đó hay một hoạt động phức tạp hơn bằng cách lựa chọn và áp dụng những cách thức đúng đắn, có tính đến những điều kiện nhất định”. Theo ông, người có kỹ năng hành động là người phải nắm được và vận dụng đúng đắn các cách thức hành động nhằm thực hiện hành động có kết quả. Người có kỹ năng không chỉ nắm lý thuyết về hành động mà phải vận dụng vào thực tế [39]. Theo tác giả Thái Duy Tuyên, “Kỹ năng là sự ứng dụng kiến thức trong hoạt động”.
Mỗi kỹ năng bao gồm một hệ thống thao tác trí tuệ và thực hành, thực hiện 14 trọn vẹn hệ thống thao tác này sẽ đảm bảo đạt được mục đích đặt ra cho hoạt động. Điều đáng chú ý là sự thực hiện một kỹ năng luôn luôn được kiểm tra bằng ý thức, nghĩa là khi thực hiện bất kỳ một kỹ năng nào đều nhằm vào một mục đích nhất định [38]. Theo tác giả Đặng Thành Hưng, kĩ năng là dạng hành động tự giác, được thực hiện có kĩ thuật, dựa và những điều kiện sinh học, tâm lý và xã hội ở cá nhân, và có kết quả nhất định, đáp ứng mục tiêu hay chuẩn đã định trước. Có kĩ thuật tức là không tùy tiện, mà tuân theo trình tự, qui tắc và yêu cầu kĩ thuật [20].
Tác giả Hoàng Anh Phước (2012) trong luận án tiến sĩ “Kỹ năng tham vấn của cán bộ tham vấn học đường” đã định nghĩa: “Kỹ năng là sự vận dụng tri thức, kinh nghiệm vào hoạt động hay hành động thực tiễn trong điều kiện cụ thể để thực hiện hành động hay hoạt động đó có kết quả theo mục đích đã đề ra” [30]. Đây cũng là định nghĩa về kỹ năng mà chúng tôi sử dụng trong nghiên cứu của mình. Quá trình hình thành kỹ năng Theo tác giả Vũ Xuân Hùng (2011), kỹ năng được hình thành qua 05 giai đoạn [21]: - Giai đoạn bắt chước: Chỉ hành động theo mẫu. - Giai đoạn làm được: Hiểu nhiệm vụ, quy trình làm việc nhưng còn có những sai sót, thời gian hoàn thành chậm và đôi khi còn cần có sự chỉ dẫn.
- Giai đoạn làm chính xác: Làm việc theo quy trình, chính xác và hoàn thiện công việc nhanh chóng. - Giai đoạn hình thành kỹ xảo: Kỹ năng được tự động hoá, trên cơ sở đó hình thành nên kỹ xảo. - Giai đoạn làm biến hóa. Thể hiện khả năng di chuyển kỹ năng sang các tình huống mới hoặc hình thành các kỹ năng phức tạp.
Các giai đoạn hình thành kỹ năng Theo K. - Giai đoạn 1: Kỹ năng sơ đẳng. Ở giai đoạn này, con người ý thức được mục đích hành động và tìm kiếm cách thức thực hiện hành động dựa trên vốn hiểu biết và kỹ năng sinh hoạt đời thường, hành động bằng thử và sai. - Giai đoạn 2: Biết cách làm nhưng không đầy đủ.
Con người có hiểu biết về phương thức hành động, sử dụng các kỹ xảo đã có, nhưng chưa phải là kỹ xảo chuyên biệt dành cho hoạt động này. - Giai đoạn 3: Có những kỹ năng chung nhưng còn mang tính chất riêng lẻ. Các kỹ năng này cần thiết cho các dạng hoạt động khác nhau. - Giai đoạn 4: Giai đoạn này có kỹ năng phát triển cao, con người biết sử dụng vốn hiểu biết và kỹ xảo đã có.
Họ không chỉ ý thức được mục đích mà còn ý thức được động cơ, lựa chọn cách thức để đạt được mục đích. - Giai đoạn 5: Kỹ năng khác nhau. Có nghĩa là con người không sử dụng các kỹ năng đã được hình thành ở mức độ thuần thục, điêu luyện mà còn sáng tạo trong khi thực hiện. Các quan điểm chung của các nhà Tâm lý học hoạt động thì các giai đoạn hình thành kỹ năng là: 16 1.
Nhận thức mục đích của hành động và kế hoạch hành động 2. Luyện tập Theo tác giả Nguyễn Phụ Thông Thái, kỹ năng được hình thành qua 2 giai đoạn [34]. Đây chính là cách phân chia các giai đoạn hình thành kỹ năng được chúng tôi lựa chọn làm công cụ đo của đề tài, bao gồm: + Giai đoạn 1: Có tri thức về hành động (mục đích, cách thực hiện, các điều kiện hành động) và các kinh nghiệm cần thiết. + Giai đoạn 2: Vận dụng tri thức, kinh nghiệm đã có vào hành động và thực hiện hành động có kết quả.
Như vậy, cần phải nắm được các giai đoạn hình thành kỹ năng để tổ chức và điều khiển hoạt động giáo dục sao cho hình thành được ở giáo viên những kỹ năng là điều cần thiết và quan trọng. Các kỹ năng của người giáo viên được hình thành và hoàn thiện trong quá trình hành nghề. Đối với người giáo viên nói chung và giáo viên chủ nhiệm THPT nói riêng khi bước vào thực hành, dù ít hay nhiều, kỹ năng của họ phải đạt ở mức hoàn thiện mới có thể đáp ứng được yêu cầu. Tuy nhiên, trên thực tế, kỹ năng trong các lĩnh vực đặc biệt ngoài chuyên môn giảng dạy ví dụ như tư vấn hướng nghiệp vẫn chưa được đưa vào chương trình đào tạo sư phạm chính thức, do đó đòi hỏi GV tại các trường THPT cần phải được đào tạo thêm về lĩnh vực này.
Lý luận về kỹ năng tư vấn hướng nghiệp của giáo viên chủ nhiệm 1. Khái niệm giáo viên chủ nhiệm 1. Định nghĩa giáo viên chủ nhiệm Thông tư 15/2017/TT-BGDĐT sửa đổi Quy định chế độ làm việc đối với giáo viên phổ thông kèm theo Thông tư 28/2009/TT-BGDĐT do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành đã định nghĩa: “Giáo viên chủ nhiệm là giáo viên giảng dạy ở các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, cơ sở giáo dục khác, giảng dạy trình độ sơ cấp, trung cấp được cơ sở giáo dục đó phân công trực tiếp quản lý, điều hành, theo sát quá trình học tập của học sinh để báo cáo với nhà trường và gia đình. Chức năng, nhiệm vụ của giáo viên chủ nhiệm về hướng nghiệp Căn cứ Thông tư 12/2011/TT-BGDĐT và Điều 31 của Thông tư số 12/2011/TT-BGDĐT do Bộ giáo dục và đạo tạo ban hành ngày 28 tháng 3 năm 2011 về điều lệ trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học đã quy định giáo viên trường trung học có những nhiệm vụ sau đây [5]: - Dạy học và giáo dục theo chương trình, kế hoạch giáo dục, kế hoạch dạy học của nhà trường theo chế độ làm việc của giáo viên do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định; quản lý học sinh trong các hoạt động giáo dục do nhà trường tổ chức; tham gia các hoạt động của tổ chuyên môn; chịu trách nhiệm về chất lượng, hiệu quả giáo dục; tham gia nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng; - Tham gia công tác phổ cập giáo dục ở địa phương; - Rèn luyện đạo đức, học tập văn hoá, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ để nâng cao chất lượng, hiệu quả giảng dạy và giáo dục; vận dụng các phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo, rèn luyện phương pháp tự học của học sinh; - Thực hiện Điều lệ nhà trường; thực hiện quyết định của Hiệu trưởng, chịu sự kiểm tra, đánh giá của Hiệu trưởng và các cấp quản lý giáo dục; - Giữ gìn phẩm chất, danh dự, uy tín của nhà giáo, gương mẫu trước học sinh; thương yêu, tôn trọng học sinh, đối xử công bằng với học sinh, bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của học sinh; đoàn kết, giúp đỡ đồng nghiệp; tạo dựng môi trường học tập và làm việc dân chủ, thân thiện, hợp tác, an toàn và lành mạnh; - Phối hợp với giáo viên chủ nhiệm, các giáo viên khác, gia đình học sinh, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh trong dạy học và giáo dục học sinh; - Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật.
- Giáo viên làm công tác tư vấn cho học sinh là giáo viên trung học được đào tạo hoặc bồi dưỡng về nghiệp vụ tư vấn; có nhiệm vụ tư vấn cho cha mẹ học sinh và học sinh để giúp các em vượt qua những khó khăn gặp phải trong học tập 18 và sinh hoạt.