CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO VỆ CẢNH QUAN SƯ PHẠM TẠI TRƯỜNG THCS 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu nước ngoài Chủ đề giáo dục ý thức bảo vệ CQSP trong nhà trường đã được đề cập tới ở nhiều khía cạnh, mức độ, phạm vi và cách tiếp cận khác nhau. Có thể kể đến các tư tưởng và một số công trình nghiên cứu sau: Ở đất nước Nhật Bản dưới thời Minh Trị Thiên Hoàng (1852- 1912), đã đề ra quyết sách phải xây dựng CQSP chuẩn mực, môi trường cuộc sống thân thiện để giúp phát triển phẩm chất, năng lực học sinh.
Kết quả góp phần đào tạo người công dân có ý thức tự giác, tự chủ, trách nhiệm cao trong việc BVMT, bảo vệ cảnh quan các trường học( theo Makiguchi,T,2009) Trong thế kỷ trước, các nước phương tây có nhiều nghiên cứu về vần đề văn hóa học đường nói chung, CQSP nói riêng. Norris Brock Johnson nghiên cứu hoạt động GD ý thức BVCQSP trong nhà trường đã nêu ra: CQSP là một động lực để nâng cao chất lượng GD, rèn luyện phẩm chất, năng lực của con người (Norris Brock Johnson, 1982). Các nghiên cứu về quản lý CQSP trong các cơ sở GD đều chứa đựng trong QL nhà trường, những nội dung nghiên cứu về QL văn hóa nhà trường. Chương trình hành động Dakar (2000) của UNESCO đề cập môi trường học tập thân thiện, an toàn là một trong mười yếu tố đảm bảo chất lượng của nhà trường: (1) Người học khoẻ mạnh, được nuôi dạy tốt, được khuyến khích để học tập chủ động; (2) Người dạy thành thạo nghề nghiệp và được động viên đúng mức, đảm bảo các điều kiện để thực hiện các HĐGD; (3) Phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực; (4) Chương trình GD thích hợp với người dạy và người học, điều kiện KT-XH; (5) Cơ sở vật chất, thiết bị GD và công nghệ GD thích hợp, dễ tiếp cận; (6) Môi trường học tập thân thiện, an toàn; (7) Hệ thống đánh giá thích hợp với môi trường, quá trình và kết quả GD; (8) Hệ thống QL GD chất lượng, minh bạch và dân chủ; (9) Tôn trọng và thu hút được cộng đồng và nền văn hoá địa phương trong HĐGD; (10) Các thiết 7 chế, chương trình GD có nguồn lực thích hợp, thoả đáng, bình đẳng( theo Nguyễn Đăng Cầu,2009) Trong giai đoạn hiện nay, vấn đề GD ý thức bảo vệ môi trường sư phạm càng được chú ý, khi GD đã chuyển từ việc cung cấp kiến thức sang phát triển phẩm chất, năng lực người học (Carrus, G.
Passiatore, Y, 2015) cho rằng: CQSP trong môi trường GD giúp hoạt động nhận thức và thúc đẩy hành vi xã hội tích cực cho HS. Còn các tác giả (Varela - Candamio, 2018) lại đề cao tầm quan trọng của GD ý thức BVMT sư phạm và cho rằng nó là yếu tố quyết định hành vi xanh dựa trên các nghiên cứu phân tích tổng hợp. Nhóm tác giả (Gage, 2018) lại làm rõ mối quan hệ giữa việc GV quản lý hoạt động GD bảo vệ cảnh quan nhà trường, lớp học và hoạt động của HS. Nhiều nghiên cứu của nhóm (Bonnes, M., 2004) cho rằng cảnh quan nhà trường làm cho những đứa trẻ hạnh phúc và có kỹ năng.
Các hoạt động GD ý thức bảo vệ cảnh quan nhà trường có vai trò quan trọng, việc QL hoạt động GD ý thức bảo vệ cảnh quan sư phạm tạo ra môi trường hình thành sự phát triển nhân cách tích cực và GD con người toàn diện (Citation: Pirchio S, 2019). Đến nay, các tác giả trên thế giới đã quan tâm nghiên cứu những vấn đề liên quan đến vai trò quan trọng CQSP và giáo dục ý thức bảo vệ CQSP, những biện pháp hay những cách thức quản lý hiệu quả của hoạt động này. Những kết quả nghiên cứu trên đã giúp người nghiên cứu khẳng định chắc chắn hơn tầm quan trọng của việc giáo dục ý thức BVCQSP trong nhà trưởng là một trong những nội dung trọng tâm cho sự phát triển của nhà trường, từ đó giúp người nghiên cứu có thể đưa ra khái niệm, những nội dung và phương thức xây dựng và phát triển CQSP phù hợp với tình hình thực tế tại các trường THCS trên địa bàn Thị xã Thuận An, Bình Dương. Các nghiên cứu trong nước Trong quá trình hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn, dân tộc Việt nam đã xác định được mối quan hệ giữa phẩm chất, năng lực con người với môi trường, điều kiện sống.
Thủ tướng Chính phủ - QĐ số 1363/QĐ-TTg ngày 17/10/2001 về việc phê duyệt Đề án đưa các nội dung bảo vệ MT vào hệ thống GD quốc dân, năm 2001 (Thủ tướng Chính phủ, 2001). Năm 2020, Quốc hội Nước CHXHCN Việt Nam ban hành Luật bảo vệ môi 8 trường, luật số 72/2020/QH14 gồm 16 chương, 171 điều bổ sung, sửa đổi, bãi bỏ một số điều khoản của luật số 55/2014/QH13 (Quốc hội, 2020). Chính phủ Nước CHXHCN Việt Nam ra Nghị định 80/2017/NĐ-CP quy định về môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, thân thiện, phòng chống bạo lực học đường (Chính phủ, 2017). Bộ GD&ĐT ra Chỉ thị 40/2008/CT-BGDĐT về việc phát động phong trào thi đua xây dựng trường học thân thiện, HS tích cực trong nhà trường phổ thông giai đoạn 2008 -2013 (Bộ Giáo dục & Đào tạo, 2018) Các nghiên cứu Đỗ Thị Ngọc Lan trong cuốn “Môi trường tự nhiên trong hoạt động sống của con người” (Đỗ Thị Ngọc Lan, 2013), và tác giả Lê Thanh Vân trong cuốn “Con người và môi trường” (Lê Thanh Vân, 2012) đã phân tích: MT tự nhiên không những cung cấp những giá trị vật chất cho sự hình thành, phát triển của con người và xã hội, mà còn mang lại nhiều giá trị tinh thần: giá trị thẩm mỹ, thể hiện quan hệ đạo đức, văn hóa và xây dựng, phát triển môi trường cuộc sống tốt sẽ trở thành một động lực để phát triển phẩm chất, năng lực con người tiên tiến.
Trong hoạt động GD – đào tạo, việc GD ý thức BVCQSP trong và ngoài nhà trường sẽ có tác động lớn trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả GD toàn diện (Nguyễn Hồng Thuận, 2018) Tác giả Vũ Trọng Dung trong cuốn “Đạo đức sinh thái và giáo dục đạo đức sinh thái” (Vũ Trọng Dung, 2009) trên cơ sở phân tích thực trạng GD đạo đức sinh thái ở nước ta hiện nay, nêu ra mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ của GD đạo đức sinh thái. Tác giả khẳng định: nước ta chưa có chương trình GD riêng về đạo đức sinh thái, vấn đề GD đạo đức sinh thái được đặt trong chương trình GD – đào tạo về môi trừơng. Các tác giả Bùi Thị Kim Thuý, Nguyễn Hồng Thuận, khi đề xuất nhiệm vụ phát triển năng lực bảo vệ MT cho HS THCS qua trải nghiệm, cho rằng: trong bối cảnh MT sống trên hành tinh của chúng ta đang bị xâm hại và ô nhiễm nghiêm trọng, GD môi trường được xem là một trong những biện pháp có hiệu quả cao và bền vững, vì nó giúp con người có được nhận thức đúng đắn và thực hiện một cách có ý thức các nhiệm vụ bảo vệ MT (Nguyễn Hồng Thuận, 2018). Bùi Thị Kim Thuý nhận xét: 9 ngành GD đã có nhiều cố gắng trong việc tích hợp nội dung giáo dục BVMT vào trong nhà trường.
Ở cấp THCS, kiến thức về MT và biến đổi khí hậu cũng đã được đưa vào một số môn học, như: Địa lí; Sinh học; Công nghệ, giáo dục công dân,. và thông qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp. Tuy nhiên, kết quả đạt được trên thực tế còn chưa như mong đợi (Bùi Thị Kim Thuý, 2017). Điều này thể hiện ở cả phương diện ý thức, hành vi của một bộ phận HS.
Do cách tổ chức GD theo kiểu truyền thống nâng cao nhận thức qua các buổi sinh hoạt dưới cờ, hoặc các giờ học không mang tính trải nghiệm, không thể đem đến cho HS những cảm xúc và năng lực hành động bảo vệ MT. Do vậy, công tác GD môi trường phải kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí thuyết và thực hành để khi gặp phải những vấn đề thực tiễn các em có thể vận dụng một cách sáng tạo những kiến thức, kĩ năng đã được trang bị để giải quyết nó; đồng thời, giúp các em có ý thức, biết đánh giá và cân nhắc về tác động đối với môi trường trong mỗi hành động của mình Liên quan đến việc QL các hoạt động GD tại trường THCS, các tác giả Nguyễn Đăng Cầu, Nguyễn Hồng Thuận đã bàn về việc GD ý thức cho HS THCS trong bối cảnh hiện nay đang là vấn đề cấp thiết đối với GD Việt Nam. Nhiều trường xem đây là nhiệm vụ GD của nhà trường nhằm trang bị và rèn luyện cho HS những tư tưởng, ý thức bảo vệ cơ bản để có thể tham gia vào cuộc sống đa dạng, thích nghi hướng thiện với sự thay đổi của môi trường. Trong thực tế, các trường đang tiến hành GD ý thức BVCQSP cho HS nhưng hiệu quả GD còn phụ thuộc vào kinh nghiệm và điều kiện tổ chức học tập của từng cơ sở,phương pháp, hình thức tổ chức đáp ứng yêu cầu mới (Nguyễn Hồng Thuận, 2018).
Tác giả Nguyễn Quang Kính đề cập đến công tác QL của các cấp lãnh đạo, QL nhà trường cho rằng: vấn đề then chốt của quá trình phát triển nhân cách HS, xây dựng MT văn hóa nhà trường ( trong đó có xây dựng cảnh quan nhà trường) đòi hỏi phải nâng cao công tác QL của các cấp lãnh đạo, QL nhà trường nhằm tạo ra sự chuyển biến thật sự mạnh mẽ trong ngành GD (Nguyễn Quang Kính, 2016). Tác giả Nguyễn Hồng Thuận khi đề cập đến việc phát triển kĩ năng BVMT cho HS trung học thông qua hoạt động trải nghiệm sáng tạo, cũng khẳng định, GD môi trường là biện pháp có hiệu quả cao và bền vững, giúp mỗi cá nhân có được nhận 10 thức đúng đắn và thực hiện một cách có ý thức các nhiệm vụ BVMT. Độ tuổi học trung học là thời kì thuận lợi để GD ý thức, kĩ năng và hình thành thói quen BVMT cho HS, giúp các em vận dụng một cách sáng tạo những kiến thức, kĩ năng đã được trang bị để giải quyết vấn đề thực tiễn. GV trung học cần tổ chức cho HS tham gia các hoạt động đa dạng, tạo cơ hội để các em được trải nghiệm, sáng tạo nhằm phát triển kĩ năng BVMT.
Điều này còn có tác động lan tỏa tới nhiều đối tượng liên quan như bạn bè và những người thân sống cùng các em. Trong bài viết tác giả đưa ra một số kĩ năng BVMT cần hình thành ở HS trung học và gợi ý một số hoạt động để GV tổ chức cho HS trải nghiệm sáng tạo việc BVMT sống xung quanh các em (Nguyễn Hồng Thuận, 2018).