Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CỦA ĐỘI NGŨ CỐ VẤN HỌC TẬP Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ở ngoài nước Hoa Kỳ là quốc gia tiên phong trong việc chuyển đổi mô hình đào tạo theo học chế tín chỉ tại trường Đại học Harvard vào năm 1872. Xuất phát từ đòi hỏi quy trình đào tạo phải tổ chức sao cho mỗi sinh viên (SV) có thể tìm được cách học thích hợp nhất cho mình, đồng thời trường đại học phải nhanh chóng thích nghi và đáp ứng được những nhu cầu của thực tiễn cuộc sống.
Vào năm 1872 Viện Đại học Harvard đã quyết định thay thế hệ thống chương trình đào tạo theo niên chế cứng nhắc bằng hệ thống chương trình mềm dẻo cấu thành bởi các môđun mà mỗi SV có thể lựa chọn một cách rộng rãi. Đến đầu thế kỷ 20 hệ thống tín chỉ (HTTC) được áp dụng rộng rãi hầu như trong các trường đại học Hoa Kỳ. Tiếp sau đó, nhiều nước lần lượt áp dụng HTTC trong toàn bộ hoặc một bộ phận của trường đại học của mình: các nước Bắc Mỹ, Nhật Bản, Philippin, Đài Loan, Hàn Quốc, Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Ấn Độ,. Tại Trung Quốc từ cuối thập niên 80 đến nay HTTC cũng lần lượt được áp dụng ở nhiều trường đại học [29].
Các nghiên cứu thực tiễn về hoạt động CVHT cũng trở thành một trong những hoạt động quan trọng mà nhiều tác giả trên thế giới bàn đến trong quá trình phát triển các phương thức dạy – học ở bậc đại học. Trước khi đi đến thống nhất và hoàn thiện, hoạt động CVHT được xác định trải qua 3 giai đoạn hình thành và phát triển, trong mỗi giai đoạn đều có sự khác biệt về vai trò, nhiệm vụ và kỹ năng tư vấn riêng biệt [39]. (1) Giai đoạn thứ nhất: Nhiều tác giả cho rằng ở giai đoạn này, hoạt động CVHT hình thành nhưng chưa được định nghĩa. Bắt đầu từ năm 1636, 8 tại trường ĐH Harvard các giáo viên và sinh viên là một gia đình lớn cùng sống chung trong một tòa nhà, cùng ăn uống, thư giản, giải trí, cầu nguyện và tuân theo kỷ luật chung.
Giai đoạn này đã hình thành người đóng vai trò giúp đỡ, trợ giúp cho cả người dạy và người học, song chưa cụ thể hóa được chức năng của một CVHT thực sự. (2) Giai đoạn thứ hai: Từ năm 1870 đến 1970 là giai đoạn “CVHT trở thành một hoạt động được định nghĩa nhưng chưa được kiểm tra”. Theo Frost (2000), đây chính là thời kỳ hoạt động của CVHT được định hướng một cách rõ ràng, cụ thể. CVHT có nhiệm vụ hướng dẫn cho SV chọn những môn học phù hợp với nhu cầu và năng lực cá nhân.
Tuy nhiên, vị trí - nhiệm vụ của CVHT vẫn mang tính kiêm nhiệm, bổ trợ và tập trung chủ yếu cho giải đáp nội dung giảng dạy. (3) Giai đoạn thứ ba: Được xác định là từ năm 1970 cho đến nay. Công trình nghiên cứu của Frost (2000) đã xác định, hoạt động “cố vấn học tập đã trở thành một hoạt động được định nghĩa và kiểm tra”. Đây là giai đoạn mà hình thức đào tạo theo hệ thống tín chỉ được đặt tên và chức danh CVHT cũng bắt đầu xuất hiện trong hoạt động giáo dục.
CVHT mang tính chuyên trách chuyên môn cao và hoạt động của đội ngũ này được xây dựng thành một hệ thống hoàn chỉnh có sự điều khiển, kiểm tra giám sát của cán bộ quản lý đào tạo. Gordon (1992) cho rằng, các trường đại học trong những thập niên 1960- 1970 đã trở thành nơi cung cấp dịch vụ đào tạo cho người học, vì thế SV đã tìm đến CVHT để tìm hiểu mọi thông tin về ngành nghề, các nghĩa vụ và quyền lợi, sự công bằng giữa các SV và các vấn đề liên quan khác. Hoạt động CVHT được thúc đẩy và hoàn thiện từ năm 1979, khi Hiệp hội Cố vấn học tập Quốc gia (NACADA) ra đời. Đây là Hiệp hội các nhà tư vấn chuyên nghiệp, giáo viên tư vấn, quản trị viên và có cả những SV, họ cùng nhau làm việc, nghiên cứu, thực hành để tìm cách tăng cường, phát triển 9 chất lượng giáo dục và đào tạo theo tín chỉ (Beatty, 1991) [35].
Hiệp hội CVHT đã tập trung làm rõ cách thức mà một CVHT có thể làm việc hiệu quả với người học để xây dựng nên đời sống tâm trí của họ trong học tập – nghề nghiệp, phát triển cá nhân và xã hội. Như vậy, để xây dựng và hoàn thiện hệ thống CVHT phải trải qua thời gian lâu dài để đúc kết kinh nghiệm và dần hoàn thiện. Ngay cả quốc gia đầu tiên là Hoa Kỳ cũng phải trải qua những chặng đường dài từ việc lựa chọn các quan điểm, nhìn lại quá trình đào tạo, hình thành đội ngũ trợ giúp người học đến việc xây dựng quy định, yêu cầu cụ thể đối với người làm công tác CVHT. Điều này không chỉ góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, giúp sinh viên khắc sâu và vận dụng được những kiến thức đã học vào thực tiễn công việc và cuộc sống sau khi ra trường mà còn là yếu tố đảm bảo chất lượng đào tạo và uy tín, thương hiệu của Nhà trường.
Theo nghiên cứu của Tổ công tác Giáo dục Hoa Kỳ năm 1988 “để các hoạt động học tập và rèn luyện được diễn ra thuận lợi thì cần có “cầu nối” giữa sinh viên và cố vấn học tập” [dẫn theo 15], cho thấy rằng vai trò của CVHT và hoạt động của họ góp phần tích cực vào sự phát triển của nhà trường. CVHT là những người ngoài am hiểu chuyên môn còn nắm vững cấu trúc chương trình đào tạo, nội dung kiến thức trong chương trình, phân chia môn học theo từng mốc thời gian cụ thể (học kỳ) mà nhà trường tổ chức thực hiện giảng dạy. Căn cứ vào chương trình, các CVHT hướng dẫn SV lựa chọn các môn học phù hợp để xây dựng kế hoạch học tập cho riêng mình, vừa phù hợp với yêu cầu ngành đào tạo vừa phù hợp với năng lực, sở thích và điều kiện cá nhân. Từ các nghiên cứu lý thuyết của Benjamin Bloom (1956), E.
Erickson (1963), Chickering (1969), Jean Piaget (1896-1980), William Perry (1997) [34], “các lý thuyết này đã hỗ trợ nhiều trong công tác tư vấn của CVHT ngày càng trở nên dễ dàng hơn và chuyên nghiệp hơn”. Ngoài ra, còn có những bài báo và những câu nói của các học giả về hoạt động CVHT được 10 đăng trên tạp chí NACADA1, điển hình như: - Trên trang bìa số đầu tiên của tạp chí NACADA, tác giả John H. Borgard (1981) viết rằng: “Chúng ta cần một cái gì đó nhiều hơn để hoạt động cố vấn học tập không chỉ hỗ trợ cho việc giảng dạy và nghiên cứu, mà còn đạt được chức năng giáo dục thật sự hơn”. Điều mà tác giả này muốn đề cập đến chính là nền tảng lý thuyết tiếp cận cho hoạt động CVHT [39].
Cũng theo Peter L. Hagen and Peggy Jodan (2008) phát triển trong hoạt động của CVHT với mục đích là trang bị cho CVHT những kiến thức thực tiễn để họ có thể giúp SV thích nghi và tự chủ với quá trình học tập của mình ở môi trường đại học [38]. Hemwall and Kent C. Trachte (2005), cho rằng: “Cố vấn học tập nên kết hợp sự hiểu biết của mình và nhiều hình thức học tập khác nhau vào những sinh viên để có tư vấn cách học tốt nhất; “Cố vấn học tập phải có khả năng nắm vững tình hình xã hội hiện tại với thực tế học tập của sinh viên để giúp các em hiểu rõ về ý nghĩa của việc học tập.” Các tác giả cho rằng, CVHT ngoài hỗ trợ cho SV trong học tập, nghiên cứu khoa học còn có khả năng liên hệ thực tế để định hướng nghề nghiệp cho SV hiệu quả hơn, giúp các em chuẩn bị tâm lý, kiến thức với nghề nghiệp của mình [37].
Trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ, vai trò người CVHT vô cùng quan trọng, có thể ảnh hưởng trực tiếp đến sự thành công trong học tập và rèn luyện của SV, vì vậy hoạt động CVHT là giúp SV hiểu rõ ngành học của mình, những đặc thù nghề nghiệp và cơ hội việc làm trong tương lai; Giúp SV xây dựng định hướng và kế hoạch học tập 1 http://www.org 11 phù hợp với khả năng và điều kiện; Kịp thời điều chỉnh tiến độ học tập của SV; Thường xuyên tiếp xúc với SV để hiểu rõ tâm tư, nguyện vọng của họ, từ đó đưa ra những lời khuyên tốt nhất. Các nghiên cứu ở trong nước Ở Việt Nam, ngành giáo dục đã từng bước chuyển đổi từ phương thức đào tạo niên chế sang phương thức đào tạo theo tín chỉ và đến nay đã áp dụng ở tất cả các trường đại học, cao đẳng trong cả nước. Để liên kết giữa SV với chương trình đào tạo với nhà trường thì cần có một đội ngũ thực hiện hoạt động cố vấn đáp ứng nhu cầu thông tin của SV và hỗ trợ SV thuận lợi hơn trong quá trình học tập tại trường. Hoạt động CVHT là nhiệm vụ then chốt trong quá trình chuyển đổi từ đào tạo niên chế sang đào tạo tín chỉ.
Đó cũng là một trong những điểm khác biệt căn bản giữa đào tạo theo HTTC và đào tạo theo niên chế (trước đây). Đặc biệt, trước bối cảnh thế giới có nhiều thay đổi với sự phát triển mạnh mẽ trên nhiều lĩnh vực, CVHT phải có những cách làm mới, phương pháp mới phù hợp với xu thế phát triển chung. Hơn thế nữa, CVHT cũng phải là người đồng hành, hỗ trợ SV trong học tập và nghiên cứu khoa học. Những hoạt động đánh giá vai trò của CVHT được các trường đại học triển khai thực hiện và tiếp tục có những bài tham luận tại các hội nghị, hội thảo, bài báo đăng trên tạp chí khoa học, những đề tài luận văn được nghiên cứu trong nước như: - Theo tác giả Trần Thị Xuân Mai (2011), tại Hội nghị nâng cao vai trò cố vấn học tập, Trường Đại học Cần Thơ đã khẳng định: “Vai trò và trách nhiệm của cố vấn học tập ảnh hưởng đến sự thành công của sinh viên”.
Theo đó, tác giả đã bàn luận, phân tích vai trò, nhiệm vụ của CVHT cần được chia theo từng đối tượng SV để dễ dàng tiếp cận và tư vấn phù hợp [23].