CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu Bối cảnh thực tiễn Giáo dục luôn được coi trọng tại Việt Nam, là quốc sách hàng đầu và được công nhận rộng rãi như là một nhân tố cần thiết trong sự phát triển của nền kinh tế và ổn định tình hình chính trị xã hội của đất nước, cũng như trong việc cải thiện chỉ số phát triển con người (Pham và Fry, 2004). Công trình Văn Miếu Quốc Tử Giám đưa Việt Nam trở thành quốc gia Đông Nam Á đầu tiên thành lập cơ sở giáo dục bậc đại học vào năm 1076, truyền thống giáo dục đại học lâu đời đặc biệt quan trọng trong việc củng cố những giá trị về sự tôn trọng tri thức, giáo viên và học giả. Những truyền thống đó được xây dựng trên nền tảng văn hóa dân tộc và tính đổi mới trong xã hội Việt Nam, nó chịu ảnh hưởng của nền văn minh lúa nước, nơi mà sức mạnh tập thể và tinh thần đoàn kết của toàn cộng đồng cần được phát huy để bảo vệ mùa màng khỏi thiên tai như lũ lụt, bão và hạn hán (Trần Ngọc Thêm, 1999). Cách canh tác và sinh hoạt của nông dân Việt Nam cần linh hoạt, thiết thực và định hướng cộng đồng để đáp ứng với những thay đổi liên tục và không chắc chắn của tự nhiên.
Ngoài ra, đức tính cộng đồng còn hình thành nhân cách của mỗi cá nhân thông qua triết lý sống linh hoạt, tức là nỗ lực linh hoạt thích ứng với hoàn cảnh. Trong di sản tư tưởng của chủ tịch Hồ Chí Minh về giáo dục, quan điểm về vai trò của giáo dục trong việc phát huy nhân tố con người được coi là nhân tố trung tâm, thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Hồ Chí Minh đối với con người, coi con người là vốn quý nhất, quyết định mọi thành công; con người vừa là động lực, vừa là mục tiêu của giáo dục. Một trong những điểm mạnh chính trong cách tiếp cận của Hồ Chí Minh là khả năng kết hợp một cách sáng tạo các ý tưởng và giá trị khác nhau, từ cả truyền thống phương Tây và phương Đông (Nguyen, 2011). Cách tiếp cận của chủ tịch Hồ Chí Minh có thể là bài học quý giá cho giáo dục đại học Việt Nam về khả năng kết hợp tầm nhìn cởi mở trong một thế giới mà quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ, điều quan trọng là phải nuôi dưỡng một tầm nhìn quốc tế và cởi mở với 2 những ý tưởng, tiếp thu giá trị từ các nền văn hóa và truyền thống khác nhau.
Bằng cách đó, giảng viên và người học có thể phát triển sự hiểu biết sâu sắc và toàn diện hơn về thế giới, đồng thời được trang bị tốt hơn để giải quyết những thách thức phức tạp mà đất nước đang phải đối mặt. Kể từ năm 1986, thời điểm đánh dấu bước chuyển đổi mạnh mẽ của nền kinh tế thông qua quá trình phân cấp diễn ra trong nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội bao gồm cả hệ thống chính trị và của hệ thống giáo dục đại học Việt Nam. Nhiều sáng kiến phi tập trung hóa - chẳng hạn như phát triển các trường đại học tư thục, cơ chế tự chủ cho các trường đại học công lập (đại học tự chủ tài chính), thành lập hai trường đại học quốc gia với quyền tự chủ lớn về quản trị và hình thành một hệ thống kiểm định ngoài nhà nước đã có những ảnh hưởng sâu sắc đến hệ thống giáo dục đại học (Hoàng, 2019). Ngoài ra, nghiên cứu gần đây về quốc tế hóa và thị trường hóa giáo dục đại học (Tran và Marginson, 2018) miêu tả hệ thống trong đó các trường đại học của Việt Nam được hưởng tính linh hoạt, quyền tự chủ và các sáng kiến hợp tác - các yếu tố chính của một hệ thống phi tập trung.
Giáo dục đại học là một trong những bậc đào tạo trong hệ thống giáo dục quốc dân được quy định trong Luật Giáo dục đại học (Quốc hội, 2018). Giáo dục đại học cung cấp bằng đại học và đào tạo sau đại học (thạc sĩ, tiến sĩ) nhằm cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao, phát triển các nhà khoa học và nhà nghiên cứu tương lai, thúc đẩy sự phát triển của khoa học, công nghệ góp phần nâng cao tri thức của con người lên một tầm cao mới để đáp ứng sự phát triển kinh tế, ổn định chính trị xã hội (Van, 2022). Ngành giáo dục Việt Nam đang trong quá trình phát triển không ngừng, chú trọng tạo ra những chuyển biến hiệu quả, nhất là trong thời đại hội nhập quốc tế. Sự quan tâm ngày càng tăng đối với giáo dục đại học đã tạo ra nhiều kết quả tích cực nhưng vẫn còn một số lĩnh vực cần cải thiện, việc tổ chức chương trình đào tạo vẫn còn nhiều bất cập khi nặng về lý thuyết hơn là thực hành.
Thời lượng học các môn đại cương vẫn còn chiếm tỷ trọng cao, chương trình đào tạo chưa trang bị đầy đủ kỹ năng thực hành cho sinh viên, dẫn đến chất lượng sinh viên ra trường chưa tương xứng với yêu cầu của thị trường việc làm. Cơ cấu trình độ, ngành nghề còn mất cân 3 đối, có sự chênh lệch đáng kể giữa thành thị và nông thôn, thiếu nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu của các khu công nghiệp và các tổ chức kinh tế (Van, 2022). Trong thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 21, giáo dục đại học Việt Nam đã phát triển rất nhanh chóng, quy mô giáo dục đại học tăng 2,35 lần. Năm 2010, số lượng sinh viên đại học, cao đẳng đạt 2.
Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 40%, giáo dục ngoài công lập tăng từ 7,9% lên 19,9% ở bậc cao đẳng và từ 12,2% lên 13,2% ở bậc đại học. Ngân sách giáo dục so với tổng ngân sách chi tiêu tăng từ 15,3% năm 2001 lên 20% năm 2010. Quỹ cho sinh viên vay vốn học tập đã được thiết lập, bình đẳng nam nữ trong giáo dục phổ thông và giáo dục đại học đã cơ bản đạt được (Hien, 2022). Nhiều chính sách giáo dục đại học của Chính phủ được phản ánh trong hai văn bản là chiến lược giáo dục giai đoạn 2010-2020 (Thủ tướng chính phủ, 2012) và Luật Giáo dục đại học (Quốc hội, 2018).
Chuyển đổi đào tạo sang học chế tín chỉ, áp dụng một số chương trình tiên tiến với sự tham gia của các đối tác quốc tế, xây dựng mô hình trường đại học mới ở một số trường đại học lớn, v. Tuy vậy, sự phát triển về chất lượng chưa tương xứng khi các điều kiện đảm bảo chất lượng chưa theo kịp quy mô, số lượng và chất lượng đội ngũ giảng viên không tăng như kế hoạch: tỷ lệ sinh viên/giảng viên vẫn cao (24:1), tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ còn thấp với khoảng 28% (Bộ giáo dục và đào tạo, 2022). Phương pháp dạy và học, phương pháp đánh giá kết quả học tập ở trường đại học chậm đổi mới, năng lực chuyên môn của sinh viên ra trường chưa đáp ứng yêu cầu của công việc, bộc lộ nhiều yếu kém. Không có nhiều sự chú ý cho giáo dục kỹ năng sống, phát huy năng lực sáng tạo, năng lực thực hành.
Về mặt quản lý, quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của cơ sở giáo dục đại học chưa được thực hiện nhiều, một số cơ chế quan trọng trong quản trị đại học như Hội đồng trường, chính sách đối với giáo dục đại học ngoài công lập chậm được thể chế hóa và vận dụng không thống nhất và cụ thể (Hien, 2022). Trong xu hướng toàn cầu hóa mà chúng ta đang sống, giáo dục bậc đại học tại Việt Nam nắm bắt cơ hội hội nhập quốc tế hóa nhưng gặp phải những trở ngại nhằm 4 nhận được sự công nhận trên toàn thế giới về các kỹ năng và kiến thức.000 sinh viên Việt Nam đang học tập ở nước ngoài (Nguyen và cộng sự, 2021). Trong những năm gần đây, đã có sự tăng trưởng lao động từ Việt Nam ra nước ngoài theo chương trình xuất khẩu lao động đã đạt được con số đáng ghi nhận. Theo Vân Khánh (2022), hiện Việt Nam có khoảng 580.000 lao động đang làm việc tại nước ngoài với các thị trường lao động chính của Việt Nam là Đài Loan, Hàn Quốc, Malaysia và Lào.
Trong khi lao động tay nghề thấp của Việt Nam được quốc tế công nhận, lao động tay nghề cao vẫn chưa nhận được sự đánh giá tương xứng. Nhiều sinh viên tốt nghiệp tại Việt Nam muốn tìm kiếm cơ hội làm việc ở nước ngoài nhưng rất khó kiếm được việc làm bên ngoài Việt Nam. Nhiều người cũng khó được công nhận là có đủ năng lực để làm việc cho các doanh nghiệp thuộc khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Các tổ chức tại Việt Nam thường quan tâm hơn đến việc tuyển dụng người nước ngoài và người Việt Nam tốt nghiệp được đào tạo ở nước ngoài.
Hệ thống giáo dục của Việt Nam hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế trong việc đào tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao, linh hoạt và thực tiễn đáp ứng nhu cầu của khu vực và quốc tế (Vân Khánh, 2022). Theo Barnett (2006), khả năng lựa chọn nghề nghiệp của mỗi người luôn là những lựa chọn mở. Con đường sự nghiệp cho sinh viên tốt nghiệp tại Việt Nam trở nên đa dạng nên việc giải quyết nhu cầu về lực lượng lao động linh hoạt là một nhiệm vụ quan trọng đối mặt với cải cách giáo dục đại học Việt Nam. Nhiều sinh viên tốt nghiệp muốn thay đổi công việc, nghề nghiệp sau khi đã làm việc một thời gian; và trong một thế giới đang phát triển và toàn cầu hóa, những ngành nghề mới hoặc những ngành nghề đã chuyển đổi luôn xuất hiện.
Sinh viên tốt nghiệp được yêu cầu phải linh hoạt và dễ thích nghi, tham gia học tập liên tục và luôn xây dựng năng lực để có thể di chuyển giữa các lĩnh vực và bắt tay vào chinh phục những thách thức từ việc làm mới. Mặc dù giáo dục đại học Việt Nam vẫn chưa bắt kịp nhu cầu thực tế của thị trường lao động nhưng nó cũng được ghi nhận khi có vai trò quan trọng đối với việc nâng cao năng lực và phát triển nguồn nhân lực một cách linh hoạt trong bối cảnh Việt Nam hiện nay.