Chương 1 chú trọng việc giải thích khái niệm kỹ năng tương tác trong tổ chức, kế tiếp là các mô tả để làm cơ sở đánh giá. Chương này cũng trình bày các vấn đề về giảng dạy và nghiên cứu kỹ năng tổ chức nói chung, kỹ năng tương tác trong tổ chức nói riêng. KHÁI NIỆM KỸ NĂNG TƯƠNG TÁC TRONG TỔ CHỨC 1. Nhà trường cũng là một tổ chức Khác với lý luận về tập thể nhấn mạnh tính giáo dục và sự đoàn kết thống nhất trong tâm lý học truyền thống, tâm lý học tổ chức chú trọng khả năng hợp tác trong sự đa dạng nhằm hướng đến sự hài lòng của người thụ hưởng dịch vụ lẫn người lao động đối với công việc của họ.
Tâm lý học tổ chức mở ra nhiều hướng nghiên cứu về hành vi của con người tại nơi làm việc, về các chiến lược tổ chức và quản lý để nâng cao hiệu quả công việc, tất cả xuất phát từ một khái niệm cơ bản là khái niệm tổ chức. Khái niệm này được xây dựng trên cơ sở trừu xuất những đặc điểm khác biệt giữa các loại tổ chức (thu lợi nhuận hay phi lợi nhuận, công ty tư nhân hay cơ quan công quyền, tập đoàn xuyên quốc gia hay cơ sở sản xuất nhỏ lẻ), để nhìn thấy những đặc điểm chung phổ biến của mọi tổ chức. Quan điểm mang tính khái quát này lại xuất phát từ nhu cầu sống còn của mọi tổ chức, đó là hội nhập để tồn tại và phát triển. Sự phát triển vũ bão của các phương tiện thông tin liên lạc và giao thông vận tải hầu như đã xóa nhòa các giới hạn về địa lý, làm cho thị trường ngày nay trở thành một thị trường có tính chất toàn cầu.
Xu hướng phát triển tương lai của mọi tổ chức là trở thành tổ chức toàn cầu, mọi tổ chức đều phải nối kết với nhau như là các phần của một thế giới thống nhất nhằm phục vụ cho một thị trường toàn cầu. Trong ý nghĩa đó, khái niệm tổ chức được định nghĩa như sau: Tổ chức là một đơn vị xã hội gồm có từ hai người trở lên nhằm thực hiện các chức năng theo quy định của mình trên cơ sở hoạt động liên tục và lâu dài để đạt được mục tiêu chung [57, tr. Hay: Tổ chức là một nhóm từ 2 người trở lên, tin tưởng rằng họ có thể đạt được những mục tiêu mà không một cá nhân nào có thể làm tốt một mình. Mục tiêu có thể là từ sự thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người như là thực phẩm, nơi trú ẩn, và sự an toàn, cho đến sản xuất và phân phối các sản phẩm hay dịch vụ phức tạp tinh tế.
Trong mọi trường hợp, con người trong tổ chức phải giao tiếp, quyết định, hành động, giải quyết các xung đột, và học hỏi lẫn nhau để tạo nên một mối tương quan thuận lợi có tính chất đoàn thể giữa các cá nhân làm việc độc lập [45, tr. Cũng như nhiều định nghĩa khác về tổ chức đã được phát biểu, các định nghĩa trên đề cập đến sự tập hợp các cá nhân vì một mục tiêu chung và sự tương tác giữa các cá nhân để thực hiện mục tiêu chung đó, đây chính là đặc điểm chung rất quan trọng của mọi tổ chức. Có một khái niệm rất gần gũi với tổ chức, đó là nơi làm việc. Khái niệm nơi làm việc được M.
Terell (2001) giải thích như sau: Nơi làm việc đề cập đến mọi hoàn cảnh bất kỳ mà ở đó công việc được thực hiện. Nó bao gồm cả các công việc được thù lao cũng như là các công việc không được thù lao, như là các nỗ lực trong công việc thiện nguyện hay làm các thủ lĩnh trong trường học hay trong các nhóm cộng đồng. Nó cũng bao gồm việc làm trong một cơ quan chuyên môn nghiệp vụ của các tập đoàn quốc gia hay làm việc trong cửa hàng bách hóa địa phương do mình làm chủ, hay là việc thực hiện các cuộc gọi điện thoại từ nhà của mình [40, tr. Một đặc điểm chung nhất giống nhau giữa nơi làm việc và tổ chức, đó là có việc thực hiện các hoạt động có mục tiêu xác định.
Tuy nhiên, khái niệm nơi làm việc rộng hơn khái niệm tổ chức. Mọi tổ chức bất kỳ chắc chắn phải là một nơi làm việc, nhưng có thể có những nơi làm việc không phải là tổ chức, đó là trong trường hợp các cá nhân độc lập làm việc cho mình, không có sự phối hợp hoạt động để đạt mục tiêu chung, không có sự phân cấp quản lý trong công việc. Arends (2000) thì có một số lý do để nhà trường cần được nhận thức như là một tổ chức xã hội, giống như các tổ chức xã hội khác. Trước hết, nhà trường hiện đại là một hệ thống nhân văn phức hợp, trong đó từng thành viên có chức năng quan trọng khác nhau, hành động theo các phương thức phụ thuộc lẫn nhau.
Hơn nữa, nhà trường cũng có lịch sử và nền văn hóa tổ chức riêng của mình, bao gồm các giá trị, niềm tin, và kỳ vọng, được duy trì và phát triển vượt thời gian. Ngoài ra, nhà trường cũng có các mục tiêu riêng. Mục tiêu đó chi phối cấu trúc, thủ tục hành chính và hoạt động hàng ngày của nhà trường. Tuy nhiên, nhà trường là một tổ chức đăc biệt.
Nhà trường có một số đặc điểm riêng biệt mà các tổ chức xã hội khác không có. Thứ nhất là mục tiêu của nhà trường thường không cụ thể bằng mục tiêu của các tổ chức xã hội khác. Thứ hai là nhà trường có tính chất cộng đồng nhiều hơn các tổ chức cơ quan khác. Mọi người có thể đóng góp công sức, ý kiến, hỗ trợ cho ngân sách nhà trường.
Toàn bộ nhà trường là một hệ thống mở. Thứ ba là mối quan hệ đặc biệt giữa nhà trường với học sinh. Học sinh vừa là đối tượng giáo dục, vừa là đối tượng phục vụ của nhà trường. Và sau hết, nhà trường có cấu trúc tổ chức theo kiểu mạng lưới, mỗi lớp học là một tế bào với một giáo viên chịu trách nhiệm về việc tổ chức lớp.
Cấu trúc đó thường tạo ra tình huống làm việc đơn độc đối với các giáo viên. Họ ra các quyết định giảng dạy và giáo dục mà không yêu cầu sự giúp đỡ của các giáo viên khác. Bằng việc bổ sung thêm một số vai trò khác trong nhà trường như là các chuyên gia đặc biệt, cấu trúc này có thể sẽ thay đổi, nhưng hiện tại nó vẫn là trật tự phổ biến nhất [31, tr. Trên thực tế thì các trường đại học Việt Nam còn cách rất xa với viễn cảnh của một tổ chức toàn cầu.
Mặc dù có nhiều nỗ lực, nhưng giáo dục đại học Việt Nam vẫn đang ở trong tình trạng yếu kém, bất cập [19, tr. Dư luận xã hội cho rằng sản phẩm của giáo dục đại học Việt Nam còn lạc hậu và kém chất lượng. Tình trạng đó một phần cũng do bởi cách thức phục vụ cần nhiều cải cách, hạn chế trong vấn đề liên thông quốc tế, trao đổi chương trình và chuyên gia. Tránh cách làm dị biệt, tăng cường hội nhập - cũng có nghĩa là phát triển để trở thành tổ chức toàn cầu - là xu hướng phát triển tất yếu của các trường đại học Việt Nam.
Các giáo viên cần có kỹ năng tương tác trong tổ chức Như đã nói, tâm lý học tổ chức vừa nghiên cứu các chiến lược nâng cao hiệu quả công việc vừa định hướng đến sự hài lòng của người lao động tại nơi làm việc. Hai vấn đề tưởng như mâu thuẫn này được giải quyết dựa trên một khái niệm cơ bản khác nữa là kỹ năng cần thiết tại nơi làm việc của người lao động. Các nhà tâm lý học tổ chức nhìn thấy sự phát triển của tổ chức và sự phát triển cá nhân của người lao động trong mối quan hệ có tính biện chứng. Họ nhấn mạnh rằng cá nhân cần phải sử dụng kỹ năng của mình để làm phát triển tổ chức.
Điều này cũng hết sức cần thiết trong mối quan hệ giữa giáo viên và nhà trường. Theo kết luận từ những khảo sát năm 1961 của Hiệp hội Giáo dục Quốc gia National Education Assciation NEA (Hoa Kỳ) thì việc giảng dạy trực tiếp trên lớp chỉ chiếm 40% thời gian làm việc của giáo viên. Các công việc gặp gỡ, trao đổi với học sinh, phụ huynh học sinh, giáo viên đồng nghiệp, hiệu trưởng, các chuyên gia trong trường học chiếm khoảng 35% thời gian làm việc của giáo viên. Công việc giáo dục đòi hỏi người giáo viên phải có kỹ năng tương tác trong tổ chức.
Các giáo viên phải sử dụng kỹ năng của cá nhân, nỗ lực vượt qua rào cản của kiểu cấu trúc mạng lưới, phá vỡ truyền thống tự trị để đạt được sự hợp tác, tìm kiếm sự hỗ trợ cần thiết, nhằm tạo ra các điều kiện có lợi cho tiến trình học tập của học sinh. Các giáo viên phải quan sát hoạt động của các đồng nghiệp, gặp gỡ tiếp xúc với các nhóm nhỏ các giáo viên đồng nghiệp, thảo luận về mọi vấn đề trong công việc giáo dục học sinh. Công việc tham gia bàn bạc để đi đến nhất trí về nội dung dạy học, phương pháp dạy học, và cách thức liên lạc giữa các giáo viên là hết sức quan trọng đối với kết quả học tập của học sinh. Thành công trong công việc ở nhà trường không thể là kết quả của một giáo viên độc lập làm việc đơn lẻ.
Arends cho rằng xã hội thay đổi đã buộc các nhà trường phải hành động để tạo ra môi trường học tập tốt nhất cho học sinh, và các giáo viên phải có kỹ năng tương tác tốt thì mới có thể đóng góp cho sự cải tiến nhà trường, đưa nhà trường của mình trở thành một nhà trường hiệu quả (Phụ lục 2) [31, tr. Chính vì vai trò quan trọng của kỹ năng tương tác trong công việc giáo dục mà vấn đề dạy kỹ năng tương tác cần được đặt ra trong quá trình đào tạo sư phạm. Trong quá trình điều tra, chúng tôi cũng nhận thấy rằng kỹ năng tương tác trong tổ chức của giáo viên có ảnh hưởng nhất định đến quá trình rèn luyện kỹ năng tương tác trong tổ chức của sinh viên. Chúng tôi sẽ trở lại vấn đề này trong chương 4 nhưng trước hết phải làm rõ khái niệm kỹ năng tương tác trong tổ chức.
Để bắt đầu, chúng tôi tiếp cận khái niệm kỹ năng trong tâm lý học. Tiếp cận khái niệm kỹ năng Khái niệm kỹ năng rất phức tạp trong mối liên quan mật thiết với vấn đề cấu trúc năng lực và sự hình thành năng lực.