CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA LUẬN VĂN 1. Cơ sở lý luận về chính sách 1. Khải niệm chính sách? Có nhiều cách tiếp cận để xem xét khái niệm chính sách, trong đó có: tiếp cận chính tri học, tiếp cận chính tri học, tiếp cận nhân học và nhân học xã hội, tiếp cận tâm lý học, tiếp cận kinh tế học, tiếp cận đạo đức học, tiếp cận hệ thống, tiếp cận khoa học pháp lý, tiếp cận tông hợp.
Từ các cách tiếp cận trên đây, khi nói đến một chính sách, là nói đến những yếu tô sau đây: - Chính sách là tập hợp những bién pháp mà chủ thé quyền lực hoặc chủ thé quản lý đưa ra, được thể chế hoá thành những quy định có gid tri pháp ly, nhằm thực hiện chiến lược phát triển của hệ thống theo mục đích mà chủ thể quyền lực mong đợi. - Chính sách bao giờ cũng tạo ra một sự phân biệt đối xử của chủ thé quyền lực hoặc chủ thể quản lý đối với các nhóm xã hội khác nhau. Trong sự phân biệt đối xử đó, chủ thể quyền lực có sự ưu đãi đối với một (hoặc một số) nhóm xã hội nào đó. - Các biện pháp ưu đãi phải có tác dụng kích thích động cơ hoạt động của nhóm được ưu đãi, là nhóm có vai trò then chốt trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển hệ thống, nhằm thực hiện mục tiêu phát triển của hệ thống theo chiến lược mà nhóm chủ thể quyền lực hoặc chủ thé quản lý đưa ra.
- Chính sách luôn tao ra một bat bình dang xã hội, rat có thé, đồng thời khắc phục một bất bình đăng xã hội đang tồn tại, rất có thể khoét sâu thêm những bất bình đăng vốn có, nhưng cuối cùng phải nhằm mục đích tối thượng, là thoả mãn những nhu cầu cơ bản của mục tiêu phát triển toàn hệ thống (hệ thống xã hội). ' Vũ Cao Dam (2011), Giáo trình Khoa học chính sách, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội. 8 - Toàn bộ những biện pháp đó phải đạt đến một kết quả là tạo ra một đòn ứng phó với một tình huống của cuộc chơi, có khi là rất bất lợi cho chủ thé quyền lực hoặc chủ thé quan lý. Tổng hợp từ trên tất cả các cách tiếp cận trên, có thê đưa ra định nghĩa: Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hoá, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý dua ra, trong đó tao sự uu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ, định hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu wu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội.” “Hệ thống xã hội” ở đây được hiểu theo một ý nghĩa khái quát.
Đó có thể là một quốc gia, một khu vực hành chính, một doanh nghiệp, một nhà trường. Như vậy, nói về một quyết định chính sách, người quản lý có thể hiểu theo những khía cạnh như sau: - Chính sách là một tap hợp biện pháp. Đó có thé là một biện pháp kích thích kinh tế, biện pháp động viên tinh thần, một biện pháp mệnh lệnh hành chính hoặc một biện pháp ưu đãi đối với các cá nhân hoặc các nhóm xã hội. - Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hoá dưới dang các đạo luật, pháp lệnh, sắc lệnh; các văn bản dưới luật, như nghị định, chỉ thị của chính phủ; thông tư hướng dẫn của các bộ, hoặc các văn bản quy định nội bộ của các tô chức (doanh nghiệp, trường học.) - Chính sách phải tac động vào động cơ hoạt động của các cá nhân va nhóm xã hội.
Đây phải là nhóm đóng vai trò động lực trong việc thực hiện một mục tiêu nào đó. Ví dụ, nhóm quân đội trong chính sách bảo vệ Tổ quốc, nhóm giáo viên trong chính sách giáo dục, nhóm khoa học gia trong chính sách khoa học, nhóm các nhà kinh doanh trong chính sách kinh té,. Mỗi nhóm được đặc trưng bởi những thang bậc giá trị khác nhau về nhu cầu. Đó là cơ sở tâm lý học giúp chúng ta vận dụng các bậc thang nhu cầu trong việc tạo động cơ cho đối tượng chính sách.
- Chính sách phải hướng động cơ của các cá nhân và nhóm xã hội nói trên vào một mục tiêu nào đó của hệ thống xã hội. Chang han, muc tiéu kinh doanh cua doanh nghiép, muc tiéu dao tao cua nha truong, muc tiéu phat trién của một dia phương, mục tiêu bảo vệ Tổ quốc của một quốc gia,. Trong quá trình chuẩn bị một quyết định chính sách, người quan lý cần xác định rõ các đặc điểm sau: - Cho ra đời một chính sách chính là tung ra một giải pháp ứng phó trong một cuộc chơi. Giải pháp đó phải lựa chọn sao cho chủ thể quản lý luôn thắng trong cuộc chơi, nhưng với chú ý rằng luôn thăng trong điều kiện mà đối tác cảm thấy được chia sẻ lợi ích thoả đáng (cân bằng Nash), không dồn đối tác vào đường cùng dé đón lấy những mối hoạ tiềm ấn trong các vòng chơi tiếp sau.
- Cuối cùng, một chính sách đưa ra chính nhằm khắc phục một yếu tổ bắt đồng bộ nào đó trong hệ thống, nhưng đến lượt mình, chính sách lại làm xuất hiện những yếu to bat đồng bộ mới. Như vậy, quá trình làm chính sách thực chat là tạo ra những bước phát triển hệ thống, tr những bất đồng bộ này tới những bat dong bộ khác. Trong quá trình phát triển hệ thống, không bao giờ ảo tưởng sự đồng bộ 6n định tuyệt đối. ồn định, có nghĩa là không còn phát triển.
- Kết quả cuối cùng cái mà chính sách phải đạt được là tạo ra những biến đối xã hội phù hợp mục tiêu mà chủ thé chính sách vạch ra. Khái niệm “Mục tiêu biến đổi xã hội” ở đây được sử dụng với một nghĩa hoàn toan trung lập, có thé là một biến đổi “tốt đẹp” theo một nghĩa nào đó, nhưng lại là “tồi tệ” theo một nghĩa nào đó. Tất nhiên, khi nói sử dụng tiếp cận tổng hợp để xem xét một chính sách, không nhất thiết phải xem xét đủ mọi hướng tiếp cận như trên, mà chỉ có thê một vài cách tiêp cận trong đó. Sự tác động của chính sách? - Tác động dương tính cua chính sách: tác động dương tính của một chính sách là những tác động dẫn đến những kết quả phù hợp với mục tiêu của chính sách.
Tác động dương tính là loại tác động mà cơ quan quyết định chính sách mong muôn đạt tới. Tuy nhiên, sau khi công bố một chính sách, không phải khi nào cũng chỉ có tác động dương tính, mà còn có tác động âm tính. Tác động âm tính xuất hiện là một tất yếu khách quan, hơn nữa, tác động âm tính chính là cơ sở dé suy xét ban hành những chính sách ngày càng có vai trò tích cực hơn trong quá trình phát triển xã hội. Vấn đề là chủ thê chính sách cần nhận diện đúng các tác động này đề không ngừng hoàn thiện chính sách.
- Tac động âm tính cua chính sách: tac động âm tính của một chính sách là những tác động dẫn đến những kết quả ngược lại với mục tiêu của chính sách. - Tác động ngoại biên của chính sách: tác động ngoại biên của một chính sách là những tác động dẫn đến những kết quả nằm ngoài dự liệu của cơ quan quyết định của chính sách. Trong tác động ngoại biên, người ta lại có thể thấy xuất hiện tác động ngoại biên đương tính và tác động ngoại biên âm tính. Tác động ngoại biên dương tính, là tác đông ngoại biên góp phần nâng cao hiệu quả của chính sách.
Tác động ngoại biên âm tính, là loại tác động ngoại biên dẫn tới giảm thiêu hiệu quả của chính sách. Chuỗi tác động của chính sách Một chính sách có thể làm xuất hiện một chuỗi tác động kế tục nhau. Các tác động này có thể đương tính, âm tính, ngoại biên. Chính đây là nguyên nhân dẫn đến những tình huống phức tạp khi cân nhắc để quyết định một chính sách.
? Vũ Cao Dam (2011), sdd 11 - Tac động trực tiếp của chỉnh sách: tác động trực tiếp hiện ngay sau khi chính sách được công bố. Tác động trực tiếp có thé là dương tính, âm tính, ngoai biên. - Tác động nối tiếp của chính sách: tác động nỗi tiếp diễn ra sau tác động trực tiép. Tác động nôi tiêp có thê xuât hiện sau tác động trực tiép một vai năm, cũng có thê nhanh hơn hoặc chậm hơn.
Tác động nôi tiép cũng có thể là dương tính, âm tính, ngoại biên. - Tác động kế tiếp của chính sách: tác động kê tiếp diễn ra sau tác động nối tiếp. Tác động kế tiếp có thể xuất hiện sau tác động nối tiếp một vải năm, cũng có thé nhanh hơn hoặc chậm hơn. Tác động kế tiếp cũng có thé là đương tính, âm tính, ngoại biên.
- Tác động gián tiếp cua chính sách: Tác động gián tiếp dién ra sau tác động kế tiếp, cũng bao gồm: gián tiếp dương tính, gián tiếp âm tính, gián tiếp ngoại biên. Chính sách khoa học và công nghệ 1. Khải niệm chính sách khoa học và công nghệ Tổ chức Văn hóa, Khoa học Kỹ thuật của Liên Hợp Quốc (UNESCO) đưa ra định nghĩa: “Chính sách KH&CN là tập hợp các biện pháp lập pháp và hành pháp được thực thi nhằm nâng cao, tổ chức và sử dụng tiềm lực KH&CN quốc gia với mục tiêu đạt phát triển quốc gia và nâng cao vị thé quốc gia trên thé giới”. Như vậy, theo định nghĩa này thì chính sách KH&CN trước hết là tập hợp các biện pháp thuộc lĩnh vực lập pháp và lĩnh vực hành pháp, có nghĩa là chính sách KH&CN không những chỉ thể hiện ở khâu hoạch định, ban hành các biện pháp về KH&CN, mà còn phải thể hiện ở khâu hành pháp: thực thi các biện pháp về KH&CN.
Trên cơ sở chính sách mà Vũ Cao Đàm đã định nghĩa), Luận văn xin đưa ra quan niệm về chính sách KH&CN như sau: 3 Vũ Cao Dam (2011), sdd 12 Chính sách KH&CN là tập hợp các biện pháp được thể chế hóa thông qua vật mang chính sách là các văn bản quy phạm pháp luật, do cơ quan quyên lực nhà nước hoặc cơ quan hành chính nhà nước ban hành nhằm thực hiện mục tiêu về KH&CN trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. Hệ thống cơ quan quyền lực nhà nước trong định nghĩa trên bao gồm: Quốc hội và HĐND các cấp. Hệ thống cơ quan hành chính nhà nước trong định nghĩa trên bao gồm: Chính phủ và UBND các cấp. Như vậy, chính sách KH&CN được thể hiện theo những khía cạnh: - Chính sách KH&CN là một tap hợp biện pháp về KH&CN.