phần mở đầu, kết luận, danh mục công trình của tác giả có liên quan, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận án có 3 chương: Chƣơng 1: Khái quát về điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội Đồng Quang trước năm 1954 Chƣơng 2: Chuyển biến kinh tế - xã hội ở Đồng Quang (1954-1986) Chƣơng 3: Chuyển biến kinh tế - xã hội ở Đồng Quang từ năm 1986 đến năm 2005 19 z Chƣơng 1 KHÁI QUÁT VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ - XÃ HỘI ĐỒNG QUANG TRƢỚC NĂM 1954 1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ SỰ HÌNH THÀNH LÀNG XÓM Ở ĐỒNG QUANG 1. Điều kiện tự nhiên Xã Đồng Quang thuộc huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh; phía Nam giáp xã Đình Bảng; phía Đông giáp xã Tân Hồng và thị trấn Từ Sơn; phía Tây Nam giáp xã Phù Khê; phía Tây Bắc giáp xã Hương Mạc; phía Đông Bắc giáp xã Đồng Nguyên, Tam Sơn. Đồng Quang gồm có 3 làng, đó là: Đồng Kỵ (tên nôm là làng Cời), Trang Liệt (Sặt Đồng), Bính Hạ.
Từ khi hình thành làng xã đến nay, địa giới hành chính xã Đồng Quang nói riêng và tỉnh Bắc Ninh có nhiều thay đổi. Qua sự đối chiếu so sánh giữa các thư tịch cổ, vùng đất Đồng Quang thời Hùng Vương thuộc bộ Vũ Ninh. Từ thời thuộc Hán đến thời thuộc Đường, Đồng Quang nằm trong quận Giao Chỉ (sau đổi là Giao Châu); thời Tiền Lê, thuộc châu Cổ Pháp; thời Lý thuộc phủ Thiên Đức; thời Trần, thuộc châu Vũ Ninh, lộ Bắc Giang; thời thuộc Minh, thuộc phủ Bắc Giang [129, tr54]; thời Hậu Lê, thuộc huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, Bắc Đạo. Năm Quang Thuận thứ 7 (1466), thuộc thừa tuyên Bắc Giang.
Năm 1469, Lê Thánh Tông cho sửa định bản đồ, thừa tuyên Bắc Giang đổi là trấn Kinh Bắc. Đồng Quang nằm trong huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc [60, tr. Đầu thời nhà Nguyễn, Đồng Quang thuộc huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc [128, tr55]. Trên vùng đất này bao gồm 3 xã là: Đồng Kỵ thuộc tổng Nghĩa Lập; Trang Liệt và Bính Hạ thuộc tổng Phù Lưu, huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn [60, tr.
Năm 1822, Minh Mệnh đổi trấn Kinh Bắc thành trấn Bắc Ninh. Năm 1831, trấn Bắc Ninh đổi thành tỉnh Bắc Ninh. 20 z Thời Pháp thuộc, Đồng Kỵ1 vẫn thuộc tổng Nghĩa Lập, còn Trang Liệt2 và Bính Hạ thuộc tổng Phù Lưu của phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Sau Cách mạng Tháng Tám (1945), hai làng Trang Liệt và Bính Hạ hợp nhất thành xã Trang Hạ, làng Đồng Kỵ thành xã Đồng Kỵ, thuộc huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.
Hai xã Trang Hạ và Đồng Kỵ chính thức hợp nhất thành xã Đồng Quang, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh theo Quyết định số 422 PC/2, ngày 9-7-1949. Ngày 27 tháng 10 năm 1962, Quốc hội khóa II thông qua nghị quyết hợp nhất tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang thành tỉnh Hà Bắc. Ngày 14 tháng 3 năm 1963, Chính Phủ ra Quyết định số 25/QĐ sáp nhập 2 huyện Từ Sơn và Tiên Du thành huyện Tiên Sơn. Xã Đồng Quang thuộc huyện Tiên Sơn, tỉnh Hà Bắc [3, tr.
Ngày 6-11-1996, Quốc hội khóa IX thông qua việc tái lập tỉnh Hà Bắc thành 2 tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang. Đến ngày 9-8-1999, huyện Tiên Sơn chính thức tách thành hai huyện Từ Sơn và Tiên Du theo Quyết định số 68/CP của Chính Phủ. Từ đây, xã Đồng Quang thuộc huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh [3, tr. Ngày 24-9-2008, Chính Phủ ra Nghị định Số 01/NĐ-CP thành lập thị xã Từ Sơn.
Xã Đồng Quang được tách ra để thành lập phường Trang Hạ (gồm 2 làng Trang Liệt và Bính Hạ) và phường Đồng Kỵ thuộc thị xã Từ Sơn3. Xã Đồng Quang có vị trí địa lý và những điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh tế và giao lưu văn hóa trong quá trình lịch sử. 1 Theo sách Tên làng xã và địa dư các tỉnh Bắc Kỳ của Ngô Vi Liễn thì Đồng Kỵ có tên là Đồng Kỳ (còn gọi là Cói) [99, tr. Nhưng theo chúng tôi thì Đồng Kỵ có tên nôm là làng Cời thì đúng hơn vì người dân làng này đều xác nhận như vậy và tên làng Cói là rất xa lạ.
2 Theo sách Tên làng xã và địa dư các tỉnh Bắc Kỳ của Ngô Vi Liễn thì Trang Liệt có tên là Tràng Liệt (còn gọi là Sặt Đồng) [99, tr.29] 3 Thời điểm thành lập thị xã Từ Sơn là sau khoảng thời gian chúng tôi nghiên cứu. Vì vậy, để nhất quán với tên đề tài đã lựa chọn, chúng tôi sử dụng tên đơn vị hành chính cũ là xã Đồng Quang; Thị xã Từ Sơn bao gồm 12 đơn vị hành chính trực thuộc bao gồm các phường: Đồng Kỵ, Trang Hạ, Đồng Nguyên, Đình Bảng, Tân Hồng, Châu Khê, Đông Ngàn và các xã: Tam Sơn, Tương Giang, Hương Mạc, Phù Khê, Phù Chẩn ) [Chính Phủ (2008), Nghị định về việc thành lập thị xã Từ Sơn, thành lập các phường thuộc thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, ngày 24-9-2008]. 21 z Đồng Quang nằm ở vị trí sát đỉnh thứ hai (Cổ Loa, Đông Anh) của tam giác châu thổ sông Hồng4, là nơi giáp ranh chuyển tiếp từ vùng đồi gò trung du xuống vùng đồng bằng. Thời kỳ nước Văn Lang - Âu Lạc, vùng đất Đồng Quang chỉ cách kinh đô Cổ Loa chưa đầy 10 km về hướng Tây Nam5.
Sang thời kỳ Bắc thuộc, từ thời Tây Hán đến thời Đường, giặc phương bắc đã chọn Luy Lâu6 làm trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, tôn giáo để đô hộ lâu dài nhân dân ta. Đồng Quang chỉ cách thành Luy Lâu khoảng 10 km về phía Đông Nam. Trong thời kỳ phong kiến độc lập và thời kỳ cận đại và hiện đại, vùng đất Đồng Quang vẫn nằm ở vị trí tiếp giáp với những trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa lớn của cả nước như: cách kinh thành Thăng Long (Hà Nội ngày nay) 18 km về phía Tây Nam, cách tỉnh lị Bắc Ninh 12 km về phía đông bắc. Trong giai đoạn phát triển kinh tế hiện nay, Đồng Quang nói riêng và Bắc Ninh nói chung nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc đó là Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh.
Điều này càng thúc đẩy sự chuyển biến mạnh mẽ của Đồng Quang về mọi mặt. Đồng Quang có mạng lưới giao thông đường thủy, đường bộ, đường sắt rất thuận lợi cho phát triển kinh tế và giao lưu văn hóa. Về đường thủy: Sông là huyết mạch giao thông quan trọng bậc nhất của cư dân Việt cổ, khi mà phương tiện giao thông cơ giới chưa phát triển. Nằm sát bờ phía đông của dòng sông Ngũ Huyện Khê7 nối sông Hoàng (thuộc địa phận Đông Anh ngày nay) với sông Cầu nên Đồng Quang có nhiều thuận lợi cho phát triển kinh tế và giao lưu văn hóa.
Từ Đồng Quang theo dòng sông 4 Theo GS Trần Quốc Vượng thì: “Cổ Loa – Đông Anh là miền giáp ranh trung du – đồng bằng – đỉnh thứ hai của tam giác châu thổ sông Hồng” [183, tr101-102] 5 Ta lấy vị trí tại Đồng Quang làm điểm quy chiếu phương hướng 6 Thuộc xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh ngày nay 7 Có nhiều ý kiến cho rằng dòng chảy của sông Ngũ Huyện Khê hiện tại không đồng nhất với dòng chảy tự nhiên xưa kia. Theo Giáo sư Trần Quốc Vượng, “giữa sông Cà Lồ ở phía bắc và sông Đuống ở phía nam, ngày xưa có một dòng sông chảy ngay giữa huyện (Đông Anh) đi qua dưới chân thành Cổ Loa, nối liền sông Hồng với sông Cầu, ngày nay đã trở thành một con sông chết, chỉ còn từng đoạn từng đoạn và được tích hợp vào hệ thống thủy nông hiện đại….Nửa đầu sông phía đông bắc huyện được gọi là sông Thiếp, không có đê. Khúc giữa chảy qua Cổ Loa, được gọi là Hoàng Giang, hẳn là từ Ngô Vương Quyền đóng đô ở đấy (939 – 944). Khúc cuối bắt đầu từ phía đông Cổ Loa, được gọi là Ngũ Huyện Khê” [183, tr101-102] 22 z Ngũ Huyện Khê về phía tây nam, qua sông Hoàng chưa đầy 10 km là đến thành Cổ Loa - kinh đô của nước Âu Lạc xưa (thuộc huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội ngày nay), nếu đi thêm khoảng 5 km nữa là đến sông Đuống8, sông Hồng và kinh thành Thăng Long (thủ đô Hà Nội ngày nay); từ sông Đuống xuôi theo hướng đông là đến được thành Luy Lâu - trung tâm đô hộ đầu tiên thời Bắc thuộc (nay thuộc huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh).
Nếu từ Đồng Quang theo sông Ngũ Huyện Khê lên hướng đông bắc sẽ đến sông Cầu. Từ đây nếu xuôi theo hướng đông nam là đến Phả Lại (còn gọi là Lục Đầu Giang, nơi hợp lưu của các con sông như: sông Cầu, sông Thương, sông Đuống, sông Kinh Thầy, sông Lục Nam và sông Thái Bình), từ đó tỏa đi nhiều hướng khác nhau như ngược sông Thương, sông Lục Nam lên mạn Bắc Giang, Lạng Sơn hoặc theo nhánh chính của sông Thái Bình ra biển; nếu ngược lên hướng tây bắc sẽ lên vùng Bắc Giang, Thái Nguyên, Bắc Cạn. Về đường bộ: Đồng Quang nằm sát đường quốc lộ 1A và đường sắt Hà Nội - Lạng Sơn, là những huyết mạch giao thông quan trọng nối với các tỉnh vùng đông bắc và cửa khẩu Tân Thanh (Lạng Sơn); có đường 295 nối từ quốc lộ 1A lên vùng Hiệp Hòa (Bắc Giang), nối với đường 18 rẽ theo hướng tây nam ra ngã ba Phù Lỗ, nơi khởi đầu của đường quốc lộ 2 lên các tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang, Lào Cai. Từ Phù Lỗ ngược hướng bắc lên các tỉnh Thái Nguyên, Bắc Cạn, Cao Bằng.
Đồng Quang nằm trên trục tỉnh lộ 232 nối các xã trong huyện như Phù Khê, Hương Mạc, Đồng Quang, Đình Bảng, Phù Chẩn, Tân Hồng. Cư dân Việt cổ đã sớm chinh phục đồng bằng châu thổ sông Hồng khi nó còn đang trong quá trình bồi tụ. Vì vậy, hệ thống ao, chuôm, đầm lầy còn rất nhiều. Đồng Quang cũng trong điều kiện như vậy.
Theo cụ Ngô Hữu Xuất9 8 Còn gọi là sông Thiên Đức 9 Cán bộ lão thành cách mạng, 86 tuổi, còn rất minh mẫn (sinh năm 1926) 23 z làng Trang Liệt có 7 cái ao con thiên tạo gọi là thất tinh10 nằm trọn trong khuôn viên của làng. Trong làng Đồng Kỵ trước đây cũng có hàng chục ao lớn nhỏ, có thể nối thông với nhau có tác dụng trữ nước và thoát nước rất hiệu quả. Vì vậy, Đồng Kỵ không mấy khi bị úng lụt. Sau này, do dân cư tập trung quá đông, quá trình lấp ao làm đất ở diễn ra liên tục.
Trong từng hộ gia đình, việc chia sẻ đất ở cho các con cũng là một nguyên nhân chính làm biến mất những chiếc ao trong khuôn viên các hộ gia đình.