Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ lịch sử với đề tài "Chuyển biến kinh tế - xã hội ở xã Đồng Quang, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh (1954 - 2005)" do nghiên cứu sinh Nguyễn Văn Dũng thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Đình Lê, chuyên ngành Lịch sử Việt Nam cận đại và hiện đại (Mã số: 62.05), bảo vệ tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2013.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Nông nghiệp, nông dân và nông thôn giữ vị trí chiến lược trong lịch sử dựng nước, giữ nước và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Việt Nam. Vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng là cái nôi của nền văn minh sông Hồng, nơi cộng đồng làng xã định hình thành một thực thể kinh tế - chính trị - văn hóa - xã hội mang bản sắc riêng biệt. Trong quá trình đổi mới, dù làng xã đồng bằng sông Hồng đã có nhiều biến chuyển nhưng vẫn tồn tại những yếu tố hạn chế đan xen giữa truyền thống và hiện đại. Khoảng trống nghiên cứu thực tế đặt ra là việc phân tích một cách hệ thống, toàn diện sự biến chuyển kinh tế - xã hội của một địa bàn làng xã cụ thể ở vùng cận đô thị châu thổ sông Hồng trải dài qua hơn năm thập kỷ (1954 - 2005).

Tác giả lựa chọn xã Đồng Quang (gồm 3 làng: Đồng Kỵ, Trang Liệt, Bính Hạ) làm địa bàn nghiên cứu điển hình vì ba lý do:

  1. Đồng Quang nằm ở vị trí cận đô thị lớn (cách Hà Nội 18 km), tiếp giáp vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, có quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa diễn ra nhanh trong thời kỳ đổi mới.
  2. Ba làng trong cùng một xã có sự phân hóa và diện mạo phát triển kinh tế - xã hội rất khác biệt dù ở sát cạnh nhau: làng Bính Hạ mang đậm tính chất thuần nông và chậm chuyển biến; làng Trang Liệt phát triển dịch vụ, giữ truyền thống văn hóa làng khoa bảng và là một trong hai thôn đầu tiên của cả nước ban hành quy chế nếp sống hương thôn mới; làng Đồng Kỵ năng động trong hoạt động kinh doanh, phát triển nghề mộc mỹ nghệ và trở thành làng giàu có ở đồng bằng sông Hồng.
  3. Mối quan hệ xã hội giữa các làng vừa mang tính tương hỗ tích cực, vừa bảo lưu những yếu tố bảo thủ cổ truyền, phản ánh bức tranh thu nhỏ về sự chuyển đổi của làng xã đồng bằng sông Hồng.

Mục tiêu nghiên cứu

  • Dựng lại bức tranh lịch sử về sự chuyển biến kinh tế - xã hội ở xã Đồng Quang trong hơn năm thập kỷ (1954 - 2005), làm rõ diện mạo của ba làng Đồng Kỵ, Trang Liệt, Bính Hạ.
  • Từ trường hợp nghiên cứu điểm, làm sáng tỏ tiến trình chuyển biến kinh tế - xã hội vùng châu thổ sông Hồng trong thời kỳ hiện đại, đặc biệt qua các thập niên đổi mới, góp phần đánh giá diện mạo nông thôn khu vực và cả nước.

Nhiệm vụ nghiên cứu

Văn bản luận án xác định bốn nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Khái quát chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là quá trình vận dụng, thực thi của cấp ủy địa phương dẫn tới sự chuyển biến kinh tế - xã hội tại xã Đồng Quang giai đoạn 1954 - 2005.
  2. Sưu tầm các số liệu kinh tế - xã hội của xã Đồng Quang và các địa phương liên quan; điều tra, khảo sát và xử lý các nguồn tư liệu phục vụ nghiên cứu.
  3. Trình bày khách quan, toàn diện sự chuyển biến kinh tế - xã hội của xã Đồng Quang từ năm 1954 đến năm 2005; đi sâu so sánh, đối chiếu nét tương đồng và khác biệt giữa ba làng Đồng Kỵ, Trang Liệt, Bính Hạ, cùng mối quan hệ đa diện giữa ba làng.
  4. Rút ra các ưu điểm cần phát huy và các hạn chế cần khắc phục trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Sự chuyển biến kinh tế - xã hội xã Đồng Quang, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh từ năm 1954 đến năm 2005.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn xã Đồng Quang (gồm 3 làng Đồng Kỵ, Trang Liệt, Bính Hạ), huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh; đồng thời mở rộng liên hệ với các khu vực phụ cận và đặt trong bối cảnh chung của vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng.
  • Phạm vi thời gian: Tập trung vào giai đoạn 1954 - 2005; mở rộng khảo sát khái quát giai đoạn trước năm 1954 để tạo cơ sở so sánh và sử dụng tư liệu điều tra điền dã sau năm 2005 nhằm kiểm chứng các nhận định.
  • Phạm vi nội dung: Tiếp cận mối quan hệ tương tác giữa hai nhân tố, trong đó biến đổi kinh tế (mô hình quản lý, các nhóm ngành kinh tế) đóng vai trò biến độc lập, tác động đến biến đổi xã hội (dân số, cơ cấu lao động, hệ thống chính trị, đời sống vật chất, nếp sống văn hóa, an ninh trật tự) với tư cách là biến phụ thuộc.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu nông nghiệp, nông thôn và làng xã Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử:

Các hướng nghiên cứu trước

  1. Giai đoạn trước năm 1945:
    • Cuối thế kỷ XIX có công trình La Commune Annamite au Tonkin của P. Ory.
    • Nửa đầu thế kỷ XX xuất hiện các nghiên cứu: Việt Nam phong tục (1914) của Phan Kế Bính; Người nông dân châu thổ Bắc Kỳ (1936) của Pierre Gourou nghiên cứu địa lý nhân văn, cảnh quan, hoạt động kinh tế và dân cư đồng bằng Bắc Bộ; công trình Mác-xít đầu tiên về nông dân là Vấn đề dân cày (1937) của Qua Ninh và Vân Đình (Trường Chinh và Võ Nguyên Giáp).
  2. Giai đoạn 1945 - 1954:
    • Tác phẩm Nền kinh tế xã thôn Việt Nam (1950) của Vũ Quốc Thúc.
  3. Giai đoạn 1954 - 1975 ở miền Bắc:
    • Công trình Xã thôn Việt Nam (1959) của Nguyễn Hồng Phong; Chế độ ruộng đất và kinh tế nông nghiệp thời Lê Sơ (thế kỷ XV) (1959) của Phan Huy Lê.
  4. Giai đoạn sau năm 1975 đến trước Đổi mới:
    • Bộ sách Nông thôn Việt Nam trong lịch sử (2 tập, 1977 - 1978) của Viện Sử học; Tìm hiểu chế độ ruộng đất Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX (1979) của Vũ Huy Phúc; Chế độ ruộng đất ở Việt Nam thế kỷ XI – XVIII (2 tập, 1982 - 1983) của Trương Hữu Quýnh; Cơ cấu tổ chức của làng Việt cổ truyền (1984) của Trần Từ; Lệ làng phép nước (1985) của Bùi Xuân Đính.
  5. Giai đoạn Đổi mới (từ 1986 trở đi):
    • Các công trình chuyên khảo: Văn hóa và cư dân đồng bằng sông Hồng (1991) do Vũ Tự Lập chủ biên; Về một số làng buôn ở đồng bằng Bắc Bộ thế kỷ XVIII – XIX (1993) của Nguyễn Quang Ngọc; Một làng Việt cổ truyền ở đồng bằng Bắc Bộ (1996) của Nguyễn Hải Kế; Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp ở Việt Nam (1999) của Trương Thị Tiến; Sự biến đổi của làng – xã Việt Nam ngày nay (ở đồng bằng sông Hồng) (2000) do Tô Duy Hợp chủ biên; Quan hệ dòng họ ở châu thổ sông Hồng (2000) của Mai Văn Hai và Phan Đại Doãn; Làng xã Việt Nam một số vấn đề kinh tế - văn hóa - xã hội (2001) và Mấy vấn đề về Văn hóa làng xã Việt Nam trong lịch sử (2004) của Phan Đại Doãn; Biến đổi cơ cấu ruộng đất và kinh tế nông nghiệp ở vùng châu thổ sông Hồng trong thời kỳ đổi mới (2001) của Nguyễn Văn Khánh; Làng ở vùng châu thổ sông Hồng: vấn đề còn bỏ ngỏ (2002) do Philippe Papin và Olivier Tessier chủ biên; Kinh tế hộ gia đình và các quan hệ xã hội ở nông thôn đồng bằng sông Hồng trong thời kỳ đổi mới (2003) của Nguyễn Đức Truyến; Phát triển nông thôn Việt Nam từ làng xã truyền thống đến văn minh hiện đại (2004) do Vũ Trọng Khải, Đỗ Thái Đồng, Phạm Bích Hợp chủ biên; Làng Việt Nam đa nguyên và chặt (2006) của Khoa Lịch sử - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐHQGHN).
    • Các luận án tiến sĩ liên quan: nghiên cứu của Joeng Nam Song (1996) về làng Yên Sở; Bùi Hồng Vạn về xã Phụng Thượng (Hà Tây); Kim Jong Ouk về làng Mễ Trì.
  6. Các công trình nghiên cứu về địa bàn xã Đồng Quang và các làng trực thuộc:
    • Thư tịch cổ: Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Nam nhất thống chí, Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú, Địa danh văn hóa Việt Nam của Bùi Thiết.
    • Sách lịch sử địa phương: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh Tập 1 (2000), Bắc Ninh lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp 1945 - 1954 (2000), Lịch sử thị trấn Từ Sơn do Ngô Hữu Thảo chủ biên (2004), Lịch sử xã Đồng Quang (2006).
    • Nghiên cứu riêng về làng Đồng Kỵ: Văn hóa truyền thống làng Đồng Kỵ (1999) do Lê Hồng Lý chủ biên; Một số yếu tố văn hóa và giáo dục ảnh hưởng đến sự phát triển làng - xã (2006) của Nguyễn Lâm Tuấn Anh và Nguyễn Thị Minh Phương; Biến đổi văn hóa ở các làng quê hiện nay (2009) của Nguyễn Thị Phương Châm.
    • Nghiên cứu về làng Trang Liệt: bài viết của Bùi Xuân Đính (1993), Nguyễn Hồng Kỳ trên Báo Bắc Ninh; luận án tiến sĩ của nhà nghiên cứu Nhật Bản Iwai Misaki (1994) về sự biến đổi làng xã qua trường hợp hợp tác xã nông nghiệp Trang Liệt.
    • Về làng Bính Hạ: văn bản xác nhận chưa có công trình khoa học chuyên biệt nào nghiên cứu về làng này.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Mặc dù đã có các công trình nghiên cứu riêng lẻ về từng làng hoặc các giai đoạn lịch sử cục bộ, chưa có công trình nào khảo cứu một cách có hệ thống, toàn diện về sự chuyển biến kinh tế - xã hội của toàn xã Đồng Quang trong suốt giai đoạn lịch sử hiện đại 1954 - 2005, đặt trong sự so sánh tương quan giữa ba làng Đồng Kỵ, Trang Liệt và Bính Hạ.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

  • Hệ tư tưởng và nguyên lý chỉ đạo: Luận án dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, gắn liền với các quan điểm, đường lối, nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam về nông nghiệp, nông thôn và nông dân.
  • Khung phân tích: Luận án tiếp cận mối quan hệ giữa kinh tế và xã hội theo cấu trúc nhân - quả lịch sử: biến đổi thể chế và mô hình quản lý kinh tế tác động trực tiếp đến cơ cấu ngành nghề sản xuất, từ đó làm thay đổi cơ cấu xã hội, việc làm, đời sống vật chất, tổ chức chính trị và thiết chế văn hóa làng xã.

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp chuyên ngành lịch sử: Phương pháp lịch sử và phương pháp logic được sử dụng chủ đạo để tái hiện tiến trình diễn tiến theo trật tự thời gian và bóc tách bản chất của các hiện tượng lịch sử.
  • Phương pháp bổ trợ: Phương pháp so sánh lịch sử (đối chiếu sự khác biệt giữa 3 làng trong xã và giữa xã với khu vực), phương pháp thống kê (xử lý dữ liệu địa bạ, diện tích, năng suất, dân số, nghề nghiệp).
  • Cách tiếp cận liên ngành: Kết hợp tri thức chuyên ngành sử học với kinh tế học, xã hội học và văn hóa học.

Nguồn tư liệu nghiên cứu

  1. Tư liệu thành văn:
    • Thư tịch cổ, thần tích, bia ký, địa bạ triều Nguyễn (địa bạ Gia Long năm 1805).
    • Văn kiện, nghị quyết của Đảng và Nhà nước; báo cáo, biên bản chỉ đạo, hồ sơ thống kê, lưu trữ của cấp ủy, chính quyền địa phương qua các thời kỳ.
    • Các công trình chuyên khảo, sách báo, tạp chí khoa học đã công bố.
  2. Tư liệu điều tra khảo sát thực tế:
    • Tư liệu điều tra hồi cố: Ghi nhận thông tin qua lời kể của các nhân chứng lịch sử cao niên tại địa phương, có đối chiếu và thẩm định chéo.
    • Tư liệu điều tra xã hội học: Kết quả từ các phiếu điều tra xã hội học về cơ cấu ngành nghề, thu nhập, nhà ở và nếp sống của cư dân.
    • Tư liệu điều tra khảo sát điền dã: Số liệu đo đạc, bản đồ, sơ đồ và quan sát trực tiếp hiện trường di tích, công trình tôn giáo và làng nghề.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Khái quát về điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội Đồng Quang trước năm 1954

1. Điều kiện tự nhiên và sự hình thành làng xóm

  • Vị trí và địa giới: Xã Đồng Quang thuộc huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, giáp ranh các xã Đình Bảng, Tân Hồng, Phù Khê, Hương Mạc, Đồng Nguyên, Tam Sơn và thị trấn Từ Sơn. Địa bàn nằm sát đỉnh thứ hai (Cổ Loa) của tam giác châu thổ sông Hồng, trên vùng đất chuyển tiếp từ trung du xuống đồng bằng.
  • Biến đổi hành chính: Thời Hùng Vương thuộc bộ Vũ Ninh; thời thuộc Hán đến Đường thuộc quận Giao Chỉ (Giao Châu); thời Tiền Lê thuộc châu Cổ Pháp; thời Lý thuộc phủ Thiên Đức; thời Trần thuộc châu Vũ Ninh; thời Hậu Lê thuộc huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn. Đến năm 1805 triều Nguyễn, Đồng Kỵ thuộc tổng Nghĩa Lập; Trang Liệt và Bính Hạ thuộc tổng Phù Lưu. Sau năm 1945, hình thành xã Trang Hạ và xã Đồng Kỵ. Ngày 9-7-1949, hai xã chính thức hợp nhất thành xã Đồng Quang theo Quyết định số 422 PC/2. Xã trải qua các lần sáp nhập tỉnh Hà Bắc (1962), huyện Tiên Sơn (1963), tái lập tỉnh Bắc Ninh (1996), tách huyện Từ Sơn (1999) và sau này thành lập các phường thuộc thị xã Từ Sơn năm 2008.
  • Mạng lưới giao thông và thủy hệ: Nằm sát bờ đông sông Ngũ Huyện Khê nối sông Hoàng với sông Cầu; kết nối quốc lộ 1A, đường sắt Hà Nội - Lạng Sơn, đường 295 và tỉnh lộ 232. Làng Trang Liệt có 7 ao thiên tạo ("thất tinh"), Đồng Kỵ có hệ thống ao chuôm liên thông tự nhiên tiêu úng tốt trước khi bị lấp dần do áp lực dân số.
  • Chất lượng ruộng đất: Dữ liệu địa bạ Gia Long 4 (1805) cho thấy đất canh tác tại Đồng Quang thuộc loại xấu, tỷ lệ đất loại 1 dưới 10%:
Tên làng/xã Tổng diện tích ruộng đất (mẫu.sào.thước.tấc) Ruộng loại 1 (mẫu.sào.thước.tấc) Tỷ lệ loại 1 (%) Ruộng loại 2 (mẫu.sào.thước.tấc) Tỷ lệ loại 2 (%) Ruộng loại 3 (mẫu.sào.thước.tấc) Tỷ lệ loại 3 (%)
Đồng Kỵ 444.4.13.3 40.4.13.3 9,0% 182.8.10.0 41,1% 219.0.13.0 49,2%
Trang Liệt 578.9.12.4 56.3.11.3 9,7% 297.0.14.9 51,3% 225.5.0.2 38,9%
Bính Hạ 270.1.03.0 27.0.01.8 9,9% 80.2.02.1 29,6% 162.8.14.1 60,2%
  • Quá trình tụ cư: Di chỉ Bãi Sặt (Đồng Quang) có niên đại 3.070 ± 100 năm thuộc văn hóa Đồng Đậu. Đồng Kỵ hình thành từ thời Hùng Vương với Tam Trang (Cời, Cọc, Cò); Trang Liệt định cư trước thời Lý ở Đồng Mang rồi chuyển lên cạnh rừng Sặt với 12 dòng họ ("Thập nhị tiên gia"); Bính Hạ gắn với truyền tích Tướng quân Tam Ngọ thời Hai Bà Trưng.

2. Tình hình kinh tế trước năm 1954

  • Cơ cấu sở hữu ruộng đất: Ruộng đất công chiếm tỷ lệ rất nhỏ (Trang Liệt: 2,6%, Đồng Kỵ: 5,82%, Bính Hạ: 0% công điền), trong khi ruộng đất tư chiếm tuyệt đối (85% - 90%).
  • Quy mô sở hữu và tình trạng xâm canh: Ruộng đất tư chủ yếu có quy mô nhỏ từ 1 đến 3 mẫu (Đồng Kỵ chiếm 71,6% số chủ, Bính Hạ 50,93%, Trang Liệt 46,11%). Bính Hạ bị phụ canh/xâm canh tới 92,3% diện tích đất tư (trong 214 chủ sở hữu đất tư ở Bính Hạ chỉ có 12 người là dân bản thôn).
  • Nông nghiệp và nghề phụ: Canh tác lúa nước năng suất thấp (60 - 70 kg thóc/sào Bắc Bộ), xen canh hoa màu; đặc sản có khế ngọt Trang Liệt; Đồng Kỵ có nghề đánh cá xóm Giếng, Bính Hạ có nghề mò cua bắt ốc.
  • Thủ công nghiệp: Đồng Kỵ nổi tiếng với nghề xẻ gỗ, học nghề chạm mộc Phù Khê và nghề dệt vải Cời khổ nhỏ (35 - 37 cm); Trang Liệt có nghề lọc đồng, chì, thiếc và đúc hàn nồi thau; Bính Hạ có nghề đan quang gánh bằng mây, song và dây sắt.
  • Thương nghiệp: Đồng Kỵ phát triển chợ Cời (họp 1 tháng 6 phiên) và nghề buôn bán trâu bò liên tỉnh (khoảng 20 chủ buôn quy mô lớn trước năm 1945, thu mua từ miền núi phía Bắc bán tại chợ Giầu và xuất khẩu sang Hồng Kông); Trang Liệt chuyên buôn phế liệu đồng nát bán cho Đại Bái; Bính Hạ thuần nông không có thương nghiệp.

3. Tình hình xã hội trước năm 1954

  • Cơ cấu cư trú xóm ngõ: Đồng Kỵ quy tụ 5 xóm (Tư, Bằng, Ngõ Nghè, Đột, Đồng Chu) với 5 cổng làng; Trang Liệt gồm 6 xóm (Bông, Né, Tây, Phướn, Đá, Nghè) với 5 cổng; Bính Hạ gồm 4 xóm (Trạch, Điếm, Gạo, Chùa) không có cổng làng.
  • Hương ước và tổ chức xã hội: Đồng Kỵ có bản Ước thúc thời Đinh, đến năm 1935 lập Hương ước cải lương gồm 33 khoản; Trang Liệt có "Trang Liệt xã hương ước" (1848) và "Thập tộc tân ước" (1883). Đồng Kỵ chia 4 giáp (Đông, Thượng, Tiên, Đoài) và nhiều phường hội (vật, chim bồ câu, chọi gà, kèn, cuốn pháo, đánh cá, buôn trâu). Tục kết chạ gắn kết giữa các làng: Đồng Kỵ và Trang Liệt kết chạ nước chống hạn úng; Trang Liệt kết chạ với Yên Thường; Bính Hạ kết chạ với Nhân Thọ.
  • Thiết chế chính trị: Bộ máy kỳ hào, lý dịch thời phong kiến - thực dân bị bãi bỏ sau Cách mạng Tháng Tám 1945; chính quyền nhân dân và các chi bộ Đảng thành lập năm 1947. Giai đoạn 1949 - 1954 tồn tại tình trạng hai chính quyền: bộ máy kháng chiến bí mật và chính quyền tề do thực dân Pháp lập nên tại địa phương.
  • Văn hóa, khoa cử và tín ngưỡng: Vùng đất có nhiều danh khoa đại học: Nguyễn Quốc Kiệt (Đại Bảo 3 - 1442), Dương Tử Do (Diên Ninh 5 - 1458), Nguyễn Đức Thận và Nguyễn Hoằng Nghị (Hoàng Giáp năm 1490), Trần Nguyên Khởi và Trần Dự (Hoàng Giáp năm 1532), Trần Thúc Bảo (1574), Trần Khánh Hưng (1583), Phan Đình Dương (Tiến sĩ năm 1842). Đồng Kỵ thờ Thành hoàng Đức Thánh Thiên Cương và Thần Nông, tổ chức hội pháo mùng 4 đến mùng 6 tháng Giêng (pháo đại đường kính 1,4 - 1,5m); Trang Liệt thờ Hoài Đức Vương Trần Bà Liệt (hội làng 8 đến 13 tháng 3 âm lịch); Bính Hạ thờ Đức Thánh Tam Ngọ Đại Vương (hội làng 8 tháng 3 âm lịch).

Chương 2: Chuyển biến kinh tế - xã hội ở Đồng Quang (1954 – 1986)

Nội dung chương 2 phản ánh quá trình khôi phục kinh tế, cải cách ruộng đất, hợp tác hóa nông nghiệp và xây dựng chủ nghĩa xã hội qua hai giai đoạn lớn:

  1. Giai đoạn 1954 - 1975:

    • Thời kỳ 1954 - 1964: Tiến hành khôi phục kinh tế sau kháng chiến, vận động xây dựng tổ đổi công và hợp tác xã nông nghiệp bậc thấp, chuyển lên hợp tác xã bậc cao. Số liệu các Bảng 2.1, 2.2, 2.3 phản ánh diễn biến diện tích, năng suất, sản lượng lúa mùa, lúa chiêm và các loại hoa màu tại Đồng Quang từ năm 1958 đến năm 1964.
    • Thời kỳ 1965 - 1975: Vừa sản xuất vừa chiến đấu chống chiến tranh phá hoại, huy động sức người sức của cho chiến trường miền Nam, củng cố mô hình quản lý tập trung quan liêu bao cấp trong nông nghiệp.
  2. Giai đoạn 1976 - 1986:

    • Chuyển biến kinh tế: Hợp nhất hợp tác xã quy mô toàn xã, điều chỉnh tổ chức lao động nông nghiệp thuộc huyện Tiên Sơn (Bảng 2.4). Luận án thống kê diện tích lúa vụ đông xuân (Bảng 2.5), mức bình quân lương thực chia theo đầu người tại các hợp tác xã (Bảng 2.6). Sự trì trệ của mô hình hợp tác xã kiểu cũ thúc đẩy nhu cầu tìm kiếm cơ chế quản lý mới trước thềm Đổi mới.
    • Chuyển biến xã hội: Thống kê mức sống, sở hữu phương tiện đi lại và nghe nhìn của xã năm 1985 (Biểu 2.7); biến động về quy mô trường lớp và tình hình giáo dục từ năm học 1980-1981 đến 1984-1985 (Bảng 2.8).

Chương 3: Chuyển biến kinh tế - xã hội ở Đồng Quang từ năm 1986 đến năm 2005

Nội dung chương 3 tập trung vào giai đoạn thực hiện đường lối Đổi mới của Đảng, phân tích các biến động sâu sắc về kinh tế và cấu trúc xã hội:

  1. Đường lối Đổi mới và chuyển biến kinh tế:

    • Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, thực hiện khoán hộ (Chỉ thị 100 và Nghị quyết 10), trả lại quyền tự chủ sản xuất cho hộ gia đình nông dân.
    • Chuyển biến ruộng đất: So sánh bình quân đất đai/khẩu giữa Đồng Quang và huyện Từ Sơn năm 1986 (Bảng 3.1). Phân tích biến động diện tích đất theo mục đích sử dụng giai đoạn 1995 - 2005 (Bảng 3.2), thống kê số hộ bị thu hồi đất ruộng tại làng Trang Liệt (Bảng 3.3), cơ cấu đất nông nghiệp (Bảng 3.4) và đất phi nông nghiệp (Bảng 3.5).
    • Kinh tế nông nghiệp: Diễn biến diện tích, năng suất, sản lượng lúa chiêm xuân, vụ mùa và cả năm giai đoạn 1991 - 2005 (Bảng 3.6, 3.7, 3.8, 3.9, 3.10); biến động tổng đàn trâu, bò, lợn (Bảng 3.11).
    • Thủ công nghiệp và thương mại dịch vụ: Sự phục hồi và tăng trưởng của nghề sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ tại làng Đồng Kỵ, chuyển đổi sang sản xuất hàng hóa xuất khẩu; hoạt động thương mại buôn bán gỗ, nguyên vật liệu và các dịch vụ tín dụng, vận tải phát triển nhanh.
  2. Chuyển biến về mặt xã hội:

    • Dân số, lao động, việc làm: Quy mô hộ gia đình từ 4 nhân khẩu trở xuống năm 2009 (Bảng 3.12); chuyển dịch cơ cấu ngành nghề của các hộ gia đình các năm 2001, 2006 và 2011 (Bảng 3.13, 3.14).
    • Đời sống vật chất: Phân tích nguồn thu nhập chính của hộ gia đình năm 2011 (Bảng 3.15); cơ cấu và phân loại nhà ở kiên cố năm 2011 (Bảng 3.16); tình hình phát triển giáo dục qua quy mô học sinh tiểu học và trung học cơ sở từ năm 1999 đến năm 2004 (Bảng 3.17).
    • Hệ thống chính trị và an ninh trật tự: Củng cố tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể cơ sở và giải quyết các vấn đề an ninh trật tự nông thôn trong bối cảnh kinh tế thị trường, đô thị hóa.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận và khoa học

  • Làm rõ một cách khách quan, toàn diện tiến trình chuyển biến kinh tế - xã hội của xã Đồng Quang, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh trong suốt hơn năm thập kỷ (1954 - 2005).
  • Chỉ rõ tính quy luật và mối quan hệ biện chứng giữa biến đổi kinh tế và biến đổi xã hội ở địa bàn làng xã nông thôn cận đô thị thuộc vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng.
  • Làm sáng tỏ những nét tương đồng và dị biệt về con đường chuyển dịch kinh tế, cơ cấu xã hội giữa ba làng Đồng Kỵ, Trang Liệt và Bính Hạ trong cùng một không gian hành chính cấp xã.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Rút ra những bài học kinh nghiệm, nhận diện các ưu điểm cần phát huy và các hạn chế, bất cập nảy sinh trong quá trình chuyển đổi cơ cấu ruộng đất, phát triển làng nghề, giải quyết việc làm và duy trì trật tự xã hội.
  • Cung cấp nguồn tư liệu lịch sử địa phương đã được thẩm định khoa học, phục vụ việc biên soạn địa chí, lịch sử Đảng bộ và lịch sử hành chính địa phương huyện Từ Sơn và tỉnh Bắc Ninh.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án giới hạn không gian nghiên cứu trọng tâm tại một xã (Đồng Quang) với ba thôn làng cụ thể; tư liệu lịch sử thời kỳ cận - hiện đại ở cấp cơ sở có những giai đoạn bị thất lạc hoặc phân tán do biến động chiến tranh và thay đổi địa giới hành chính, buộc tác giả phải kết hợp nhiều nguồn hồi cố và điều tra bổ trợ.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu so sánh mô hình chuyển biến kinh tế - xã hội của các làng nghề gỗ mỹ nghệ và thương mại cận đô thị khác trên toàn dải châu thổ sông Hồng; khảo sát sâu hơn giai đoạn sau năm 2008 khi xã Đồng Quang được chuyển đổi mô hình quản lý sang chính quyền đô thị (thành lập các phường Đồng Kỵ và Trang Hạ thuộc thị xã Từ Sơn).

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  1. Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên ngành Lịch sử: Cung cấp phương pháp tiếp cận liên ngành (sử học kết hợp kinh tế học, xã hội học, văn hóa học) và hệ thống tư liệu phong phú về lịch sử kinh tế - xã hội nông thôn Việt Nam hiện đại.
  2. Các nhà nghiên cứu văn hóa, xã hội học nông thôn: Tham khảo nguồn số liệu khảo sát điền dã về sự biến đổi làng nghề truyền thống, cơ cấu gia đình, dòng họ, thiết chế giáp, hội làng và quy chế nếp sống mới.
  3. Cơ quan hoạch định chính sách và chính quyền địa phương: Cung cấp cơ sở thực tiễn để đánh giá tác động của việc thu hồi đất nông nghiệp, chuyển đổi nghề nghiệp cho nông dân, bảo tồn cảnh quan và giải quyết mâu thuẫn xã hội trong tiến trình công nghiệp hóa, đô thị hóa nông thôn.

Câu hỏi thường gặp

1. Vì sao cơ cấu ruộng đất trước năm 1954 ở xã Đồng Quang có tỷ lệ ruộng công rất thấp?

Theo số liệu địa bạ Gia Long năm 1805, làng Trang Liệt chỉ có 2,6% ruộng công, Đồng Kỵ có 5,82%, riêng làng Bính Hạ hoàn toàn không có ruộng công điền (0%). Tỷ lệ ruộng đất tư hữu chiếm tuyệt đối từ 85% đến 90%. Nguyên nhân là do quá trình tư hữu hóa ruộng đất ở vùng này diễn ra sớm và triệt để hơn so với mức bình quân chung của nhiều làng xã đồng bằng Bắc Bộ.

2. Tình trạng xâm canh giữa ba làng trong xã Đồng Quang trước năm 1954 diễn ra như thế nào?

Làng Bính Hạ bị xâm canh/phụ canh nặng nề nhất, chiếm tới 92,3% diện tích đất tư (trong 214 chủ sở hữu đất tư chỉ có 12 người là dân Bính Hạ). Làng Trang Liệt có 40,43% diện tích đất tư bị xâm canh nhưng dân Trang Liệt lại sang xâm canh 41 chủ tại cánh đồng Bính Hạ. Làng Đồng Kỵ do dân cư đông đúc và giữ đất chặt chẽ nên tỷ lệ bị xâm canh thấp nhất, chỉ chiếm 3,75% diện tích đất tư.

3. Các làng nghề thủ công truyền thống tiêu biểu của ba làng trước năm 1954 là gì?

Làng Đồng Kỵ có nghề cưa xẻ gỗ, đóng đồ mộc (học từ Phù Khê) và dệt vải Cời; làng Trang Liệt có nghề thu gom quặng, lọc chì, đồng, thiếc và hàn nồi thau; làng Bính Hạ có nghề làm quang gánh bằng mây, song và dây sắt.

4. Hoạt động buôn bán trâu bò của làng Đồng Kỵ trước năm 1945 có quy mô như thế nào?

Trước năm 1945, Đồng Kỵ có khoảng 20 chủ buôn lớn chuyên thu mua trâu bò từ các tỉnh miền núi phía Bắc (Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Phú Thọ, Thanh Hóa, Nghệ An), đưa về bán tại chợ Giầu cho vùng đồng bằng và có những chủ buôn (như ông Tùng Đan ở xóm Nghè) xuất khẩu trâu bò sang Hồng Kông qua cảng Hải Phòng.

5. Sự thay đổi địa giới hành chính lớn nhất của xã Đồng Quang sau giai đoạn nghiên cứu là gì?

Sau thời gian nghiên cứu của đề tài, ngày 24-9-2008, Chính phủ ban hành Nghị định số 01/NĐ-CP thành lập thị xã Từ Sơn. Theo đó, xã Đồng Quang chính thức giải thể để chia tách thành hai đơn vị hành chính cấp phường là phường Đồng Kỵ và phường Trang Hạ (bao gồm hai làng Trang Liệt và Bính Hạ).


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Văn Dũng đã phục dựng bức tranh lịch sử về sự chuyển biến kinh tế - xã hội của xã Đồng Quang giai đoạn 1954 - 2005 dựa trên hệ thống tư liệu thành văn và khảo sát điền dã. Công trình làm rõ sự tác động của đường lối, cơ chế quản lý kinh tế đến sự phân hóa ngành nghề và cấu trúc xã hội giữa ba làng Đồng Kỵ, Trang Liệt và Bính Hạ. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn có giá trị cho việc nghiên cứu lịch sử địa phương và hoạch định chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn vùng đồng bằng sông Hồng.