mở đầu là nước Anh, đã tiến hành cuộc cách mạng công nghiệp với nội dung chủ yếu là chuyển từ lao động thủ công sang lao 21 0 0 động cơ khí. Đây là sự khởi đầu cho tiến trình công nghiệp hóa của thế giới. Tuy nhiên, phải đến thế kỷ XIX, khái niệm công nghiệp hóa mới được dùng để thay thế cho khái niệm cách mạng công nghiệp được sử dụng trước đó. Khởi đầu từ các nước Tây Âu và Bắc Mỹ, các học giả phương Tây quan niệm: Công nghiệp hóa là việc đưa các đặc tính công nghiệp cho một hoạt động, mà thực chất là trang bị các nhà máy cho một vùng, hay một nước.
Trong quan niệm này, họ đã đồng nhất công nghiệp hóa với quá trình phát triển công nghiệp. Họ coi đối tượng của công nghiệp hóa chỉ là ngành công nghiệp, còn sự phát triển của nông nghiệp và các ngành khác được coi là đối tượng trực tiếp của công nghiệp hóa. Tuy nhiên, quan điểm này không thấy được mục tiêu, điểm dừng và tính lịch sử của quá trình công nghiệp hóa. Một thời gian dài ở các nước xã hội chủ nghĩa trên thực tế đều thống nhất với quan điểm của các nhà kinh tế Liên Xô trước đây: Công nghiệp hóa là quá trình biến một nước nông nghiệp thành công nghiệp bằng cách phát triển công nghiệp nhanh hơn nông nghiệp và ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp nặng, là quá trình xây dựng nền đại công nghiệp cơ khí.
Quan niệm này xuất phát từ thực tiễn Liên Xô khi bắt tay vào công nghiệp hóa là một nước nông nghiệp lạc hậu, bị chiến tranh tàn phá, bị đế quốc bao vây và không có sự giúp đỡ từ bên ngoài. Đường lối công nghiệp hóa này của Liên Xô đã đạt được những thành tựu nhất định và từng được coi là kỳ tích của chủ nghĩa xã hội. Tổ chức Phát triển công nghiệp của Liên hợp quốc (UNIDO) đưa ra quan niệm: Công nghiệp hóa là một quá trình phát triển kinh tế, trong quá trình này một bộ phận ngày càng tăng các nguồn của cải quốc dân được động viên phát triển một cơ cấu kinh tế nhiều ngành với kỹ thuật hiện đại. Quan niệm này coi công nghiệp hóa là quá trình bao trùm toàn bộ quá trình phát triển kinh tế - xã hội và phù hợp với các nước phát triển nơi có điều kiện ứng dụng các thành tựu hiện đại của khoa học – kỹ thuật.
22 0 0 Trên cơ sở các quan niệm đó, có thể khái quát lại như sau: “Công nghiệp hóa là quá trình chuyển dịch từ kinh tế nông nghiệp (hay tiền công nghiệp), từ xã hội nông nghiệp lên xã hội công nghiệp, từ văn minh nông nghiệp lên văn minh công nghiệp”. Có thể thấy, công nghiệp hóa là sự biến đổi về kinh tế và xã hội, là quá trình đưa nền kinh tế lên xã hội công nghiệp với trình độ văn minh cao hơn. Tại Việt Nam, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III Đảng Lao động Việt Nam (1960) xác định: Công nghiệp hóa là quá trình thực hiện cách mạng kỹ thuật, thực hiện sự phân công mới về lao động xã hội và là quá trình tích lũy xã hội chủ nghĩa để không ngừng thực hiện tái sản xuất mở rộng. Quan niệm này thể hiện rõ nội dung toàn diện, mục tiêu, tính lịch sử của quá trình công nghiệp hóa; và nó được coi là quan niệm chính thống về công nghiệp hóa vào thời bấy giờ.
Tuy nhiên, quan niệm này dường như đồng nhất công nghiệp hóa với cách mạng kỹ thuật Từ những năm 90 của thế kỷ XX, sự phát triển của xu thế toàn cầu hóa và kinh tế tri thức đã làm thay đổi trình tự tiến hành công nghiệp hóa của các nước. Quá trình công nghiệp hóa không chỉ là phát triển công nghiệp mà còn là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ; đồng thời, phải áp dụng các thành tựu khoa học và công nghệ tiên tiến để tạo ra những sản phẩm mang làm lượng khoa học công nghệ cao thay thế cho những sản phẩm truyền thống. Quan niêm € về hiên€ đại hóa Hiênf đại hóa là quá trình chuyển dịch căn bản từ xã hội truyền thống lên xã hội hiện đại, quá trình làm cho nền kinh tế và đời sống xã hội mang tính chất và trình độ của thời đại ngày nay. Đây không chỉ là hiện đại hóa trong lĩnh vực kinh tế, mà nó còn bao hàm phạm vi rộng lớn hơn, đó là hiện đại hóa toàn bộ đời sống xã hội.
Hiện đại hóa là xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất, kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. 23 0 0 Ngày 30/07/1994 tại Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa VII, Đảng ta đã nêu chủ trương tiến hành xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong giai đoạn mới bằng con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nêu quan niệm: công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội, từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động với công nghệ, phương tiện, phương pháp tiên tiến hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao 1. Tính tất yếu khách quan của công nghiêp€ hóa, hiên€ đại hóa Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là xu hướng phát triển của các nước trên thế giới. Đó cũng là con đường phát triển tất yếu của nước ta để đi lên mục tiêu "Xã hội công bằng văn minh, dân giàu nước mạnh".
Một là, công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quy luật phổ biến của sự phát triển lực lượng sản xuất, của sự phát triển xã hội mà mọi quốc gia đều phải trải qua khi muốn phát triển. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa được thực hiện sẽ tạo cơ sở vật chất để tăng cường tiềm lực củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ độc lập chủ quyền quốc gia và tạo môi trường kinh tế – xã hội ổn định cho sự phát triển kinh tế Hai là, do yêu cầu cần phải xây dựng về một hệ thống cơ sở vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội và rút ngắn khoảng cách tụt hậu về kinh tế, kỹ thuật - công nghệ giữa nước ta với các nước trong khu vực và thế giới Cơ sở vật chất kỹ thuật của một phương thức sản xuất là hệ thống các yếu tố vật chất của lực lượng sản xuất xã hội, phù hợp với một trình độ kỹ thuật mà lực lượng lao động xã hội sử dụng để tiến hành quá trình lao động sản xuất. Mỗi phương thức sản xuất có cơ sở vật chất – kỹ thuật tương ứng đặc trưng cho xã hội đó. Cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội là nền công nghiệp lớn hiện đại, có cơ cấu kinh tế hợp lý, có trình độ xã hội hóa cao dựa trên trình độ khoa học và công nghệ 24 0 0 hiện đại được hình thành một cách có kế hoạch và thống trị trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân Ba là, do yêu cầu tạo ra năng suất lao động xã hội cao, đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của chủ nghĩa xã hội.
Xã hội sau muốn tiến bộ hơn xã hội trước, thì điều trước hết và chủ yếu là phải làm cho năng suất lao động của xã hội sau cao hơn hẳn năng suất lao động của xã hội trước, mà điều đó chỉ có thể trông chờ ở việc thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa còn làm cho khối liên minh công nhân, nông dân và trí thức ngày càng được tăng cường, củng cố, đồng thời nâng cao vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân. Đăc€ điểm và vai trò của quá trình công nghiêp€ hóa, hiên€ đại hóa 1. Đăc€ điểm của quá trình công nghiê €p hóa, hiên€ đại hóa Mỗi cuộc cách mạng tạo ra một trình độ công nghệ ngày càng hiện đại cho quá trình công nghiệp hóa lâu dài của nhân loại.
Cuộc cách mạng công nghiệp thứ nhất, vào cuối thế kỷ XVIII, khai sinh ra nền công nghiệp cơ khí, tạo ra dây chuyền sản xuất hàng loạt, sản xuất hàng hóa, kinh tế thị trường. Cuộc cách mạng công nghiệp thứ hai diễn ra vào cuối thế kỷ XIX, đưa đến sự ra đời của nền công nghiệp và xã hội điện khí hóa; tạo tiền đề để chủ nghĩa tư bản chuyển từ tự do cạnh tranh lên độc quyền đế quốc. Cuộc cách mạng công nghiệp thứ ba, vào giữa thập kỷ 70 của thế kỷ XX, mở ra thời đại điện tử hóa, tin học hóa. Cuộc cách mạng công nghiệp thứ tư, từ đầu thế kỷ XXI, đánh dấu bước ngoặt chuyển đổi số của toàn bộ đời sống vật chất và tinh thần của con người Các chuyên gia trên thế giới đã khái quát bốn trình độ công nghiệp hóa từ thấp đến cao.
Thấp nhất là trình độ lắp ráp; tiếp đó là trình độ sản xuất với kỹ thuật riêng; cao hơn là trình độ sản xuất với thiết kế riêng và cao nhất là trình độ sản xuất với thương hiệu riêng. 25 0 0 Hiênf nay, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của mỗi quốc gia không thể tiến hành biệt lập, khép kín mà phải đặt trong chuỗi sản xuất - kinh doanh toàn cầu. Đối với Việt Nam, đòi hỏi này trở nên bức thiết gấp bội vì nền kinh tế nước ta đã hội nhập rất sâu với nền kinh tế thế giới: giá trị tổng kim ngạch xuất nhập khẩu bằng 160-200% GDP trong những năm vừa qua. Trên ý nghĩa rất lớn, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta cũng là quá trình cơ cấu lại nền kinh tế theo lợi thế cạnh tranh; đảm bảo tự chủ kinh tế quốc gia thông qua đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất lao động và hiệu quả sản xuất - kinh doanh.
Để định hướng cho quá trình chuyển đổi quan trọng này, Đại hội XIII chỉ rõ: “Cơ cấu lại công nghiệp, nâng cao trình độ công nghệ, đẩy mạnh chuyển đổi sang công nghệ số, nâng cao tính tự chủ của nền kinh tế, có khả năng tham gia sâu, có hiệu quả vào các chuỗi giá trị toàn cầu” 1.