phần mở đầu, kết luận và phụ lục, luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1. Đảng bộ thành phố Cao Bằng lãnh đạo phát triển kinh tế, xã hội từ năm 2010 đến năm 2015. Đảng bộ thành phố Cao Bằng lãnh đạo đẩy mạnh phát triển kinh tế, xã hội từ năm 2015 đến năm 2020 Chƣơng 3: Một số nhận xét và kinh nghiệm. 8 CHƢƠNG 1 ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ CAO BẰNG LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TỪ NĂM 2010 ĐẾN NĂM 2015 1.
Những yếu tố tác động đến kinh tế, xã hội của thành phố Cao Bằng và chủ trƣơng của Đảng bộ thành phố 1. Những yếu tố tác động đến kinh tế, xã hội của thành phố Cao Bằng * Những yếu tố về điều kiện tự nhiên Thành phố Cao Bằng nằm ở 22039’- 22042’ vĩ độ Bắc, 106011’ - 106018’ kinh độ Đông với diện tích đất tự nhiên là 107,6 km2. Về địa giới hành chính: Phía Đông giáp xã Quang Trung, xã Hồng Nam huyện Hòa An; phía Tây giáp xã Bạch Đằng, xã Hoàng Tung huyện Hòa An; phía Nam giáp xã Kim Đồng huyện Thạch An, xã Lê Trung huyện Hòa An; phía Bắc giáp xã Bế Triều, xã Ngũ Lão huyện Hòa An. Thành phố Cao Bằng cách Thủ đô Hà Nội 286 km theo quốc lộ 3, cách thành phố Lạng Sơn 120 km theo quốc lộ 4A, cách cửa khẩu Quốc gia Tà Lùng khoảng 70 km.
Với đặc điểm này, có thể thấy, thành phố Cao Bằng là địa bàn trung chuyển giữa các huyện trong tỉnh, giữa các tỉnh với các cửa khẩu Tà Lùng (huyện Quảng Hòa), Trà Lĩnh (huyện Trùng Khánh), Sóc Giang (huyện Hà Quảng) và nhiều cửa khẩu phụ (lối mở), cặp chợ biên giới. Là thành phố trẻ của một tỉnh biên giới, Cao Bằng là điểm khởi đầu của ba tuyến du lịch: Khám phá Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Non nƣớc Cao Bằng, nơi chứa đựng nhiều di sản địa chất, địa mạo cổ sinh; Khám phá di sản văn hóa đậm đà bản sắc, tiêu biểu là danh thắng thác Bản Giốc, động Ngƣờm Ngao (Trùng Khánh), vƣờn quốc gia Phja Oắc - Phja Đén (Nguyên Bình); Các Khu di tích quốc gia đặc biệt Pác Bó (Hà Quảng), Khu rừng Trần Hƣng Đạo (Nguyên Bình), Chiến dịch Biên giới 1950 (Thạch An)… Thành phố là điểm dừng chân của khách du lịch đến thăm quan các di tích lịch sử, các danh lam thắng cảnh trên và là điểm quá cảnh của khách du lịch tham quan Trung 9 Quốc và ngƣợc lại khách Trung Quốc qua Cao Bằng đi tham quan các địa phƣơng khác của nƣớc ta. Với vị thế là trung tâm của tỉnh Cao Bằng, việc phát triển tốt các dịch vụ du lịch ở địa phƣơng không chỉ hiện thực hóa mục tiêu đƣa du lịch, dịch vụ trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, giúp cho Thành phố duy trì và phát huy đƣợc những nét đẹp của văn hóa dân tộc, bền vững với môi trƣờng tự nhiên, mà còn tạo tác động lan tỏa, kích thích sự phát triển của các địa phƣơng trong tỉnh, nhất là những địa phƣơng có tiềm năng du lịch lớn nhƣ Hà Quảng, Trùng Khánh, Nguyên Bình., góp phần cho tỉnh Cao Bằng phát triển bền vững phù hợp với định hƣớng chung của ngành du lịch địa phƣơng. iều iện ịa hình, hí hậu, sông ngòi Thành phố Cao Bằng là đô thị miền núi, nằm ở độ cao trung bình khoảng 200 m, địa hình dạng lòng máng thuộc hợp lƣu của sông Bằng và sông Hiến, địa hình khá phức tạp, chia cắt mạnh, đƣợc phân thành hai khu vực khác nhau.
Khu vực cũ có độ cao trung bình 180 - 190 m, là một bán đảo hình mui rùa, dốc về sông với độ dốc khoảng 0,008 - 0,01. Khu vực mở r ng bao gồm các khu xây dựng ven đồi núi và trong các thung lũng hẹp có cao độ trung bình từ 200 - 250m, độ dốc từ 10 - 30%. Do nằm sát chí tuyến Bắc trong vành đai nhiệt đới Bắc bán cầu nên khí hậu của thành phố Cao Bằng mang tính chất khí hậu nhiệt đới gió mùa. Tuy nhiên do sự chi phối của địa hình và do ảnh hƣởng độ cao, nên mang tính chất đặc thù của dạng khí hậu lục địa miền núi cao, mùa hè mát mẻ, mùa đông lạnh hơn so với các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ.
Nhiệt độ trung bình năm 21,60C, nhiệt độ trung bình thấp nhất 16,7 - 18,30C. Mùa mƣa từ tháng 5 đến tháng 10, lƣợng mƣa trung bình năm 1.442,7 mm, số ngày mƣa trong năm là 128,3 ngày. Chảy qua địa phận thành phố Cao Bằng có 2 con sông lớn là sông Bằng và sông Hiến. Chế độ thủy văn các sông suối ở thành phố Cao Bằng phụ thuộc chủ yếu vào chế độ mƣa và khả năng điều tiết của lƣu vực.
Mùa lũ trên các sông 10 suối thƣờng bắt đầu từ tháng 6 và kết thúc vào tháng 10. Do chế độ thủy văn và do ảnh hƣởng của địa hình lòng máng, nên hằng năm trong mùa mƣa vùng ven sông Bằng và sông Hiến thƣờng bị ngập úng. Song so địa hình dốc, nên thời gian lũ rút nhanh và không gây hậu quả trầm trọng nhƣ lũ lụt ở một số tỉnh miền Trung. Mùa cạn trên địa bàn thành phố Cao Bằng kéo dài khoảng 3 tháng (từ tháng 1 đến tháng 3).
Trong mùa này lƣu lƣợng nhỏ nhất trên sông Bằng là 36,7 m3/s và trên sông Hiến 10,9 m3/s. Thành phố Cao Bằng có 10.923,61 ha đất nông nghiệp, chiếm 73,97% tổng diện tích tự nhiên. Hiện trạng một số loại đất chính ở Cao Bằng nhƣ sau: Đất trồng lúa: Diện tích là 1.031,38 ha, chiếm 13,02% tổng diện tích đất nông nghiệp thành phố. Diện tích đất trồng lúa tập trung nhiều tại xã Hƣng Đạo 311,22 ha; Vĩnh Quang 228,07 ha; Chu Trinh 111,57 ha, phƣờng Đề Thám 160,92 ha.
Trong đó: Đất chuyên trồng lúa nƣớc là 850,97 ha, chiếm 10,74% tổng diện tích đất nông nghiệp. Diện tích đất chuyên trồng lúa nƣớc tập trung nhiều tại xã Hƣng Đạo 275,43 ha; Vĩnh Quang 201,69 ha; Đề Thám 144,55 ha. Đất trồng cây hằng năm khác: Diện tích là 850,69 ha, chiếm 10,74% tổng diện tích đất nông nghiệp. Diện tích đất trồng cây hằng năm khác tập trung nhiều tại xã Chu Trinh 252,17 ha; phƣờng Đề Thám 166,40 ha; xã Hƣng Đạo 115,62 ha… Đất trồng cây lâu năm: Diện tích là 1.169,20 ha, chiếm 14,76% tổng diện tích đất nông nghiệp.
Diện tích đất trồng cây lâu năm tập trung nhiều tại phƣờng Sông Hiến 325,77 ha; Đề Thám 212,09 ha; Xã Hƣng Đạo 118,62 ha, phƣờng Sông Bằng 117,23 ha. Đất rừng phòng hộ: Diện tích là 329,94 ha, chiếm 4,16% tổng diện tích đất nông nghiệp. Diện tích đất rừng phòng hộ của thành phố nằm trên địa bàn 3 11 xã phƣờng: phƣờng Sông Bằng 76,81 ha, phƣờng Ngọc Xuân 135,17 ha và xã Chu Trinh 117,96 ha; Đất rừng sản xuất: diện tích là 4.486,62 ha, chiếm 56,62% tổng diện tích đất nông nghiệp. Diện tích đất rừng sản xuất của thành phố tập trung nhiều tại xã Chu Trinh 1.684,09 ha; Vĩnh Quang 761,52 ha; Duyệt Trung 562,51 ha, Sông Bằng 377,91 ha; Đất nuôi trồng thủy sản: diện tích là 55,08 ha, chiếm 0,70% tổng diện tích đất nông nghiệp.
Diện tích đất nuôi trồng thủy sản của thành phố tập trung nhiều xã Hƣng Đạo 15,17 ha, Sông Hiến 8,92 ha; Hòa Chung 6,91 ha, Vĩnh Quang 7,89 ha… Đất nông nghiệp khác: diện tích là 0,70 ha, chiếm 0,01% tổng diện tích đất nông nghiệp nằm trên địa bàn xã Hƣng Đạo [47]. Nhƣ vậy, có thể thấy, điều kiện khí hậu, đất đai của Thành phố Cao Bằng cho phép có thể phát triển đa dạng các loại cây trồng và thực hiện thâm canh; gieo trồng nhiều vụ cây ngắn ngày trong năm; tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển một nền nông nghiệp hàng hóa chất lƣợng cao. Hiện nay, các cây trồng chủ lực của thành phố là gạo chất lƣợng cao, rau an toàn, cây ăn quả có múi (bƣởi, cam, quýt) và hoa, cây cảnh. Nguồn tài nguyên thiên nhiên Trên địa bàn thành phố Cao Bằng có mỏ sắt Nà Rụa (cách trung tâm thành phố khoảng 7 km về phía tây bắc) dự báo có trữ lƣợng khoảng 22 triệu tấn, hiện mỏ này đƣợc đầu tƣ khai thác.
Ngoài ra còn có các mỏ sắt có trữ lƣợng nhỏ nhƣ Nà Lủng, Kéo Mỏ đã và đang khai thác. Mỏ đồng, niken ở phƣờng Sông Bằng. Mỏ sét sản xuất gạch ngói ở phƣờng Ngọc Xuân, mỏ sét xi măng Đoỏng Luông ở phƣờng Đề Thám. Mỏ than nâu Nà Cáp có trên địa bàn phƣờng Sông Hiến.
Ngoài ra trên địa bàn thành phố còn có các điểm mỏ khai thác đá, cát sỏi làm vật liệu xây dựng, cầu đƣờng. 12 Nhìn chung, nguồn tài nguyên khoáng sản của thành phố Cao Bằng tƣơng đối phong phú về chủng loại nhƣng phần lớn là có trữ lƣợng nhỏ, ngoại trừ mỏ sắt Nà Rụa ở các phƣờng Hòa Chung và Tân Giang. * Những yếu tố về điều kiện về cư dân, xã hội Thành phố Cao Bằng tiền thân là thị xã Cao Bằng đƣợc thành lập từ năm 1954. Cùng với sự phát triển của đất nƣớc, thị xã Cao Bằng ngày càng đƣợc mở rộng và phát triển.
Từ năm 1954 - 1971, thành phố bao gồm toàn bộ phƣờng Hợp Giang (ngày nay) và có các phố ngoại thị: Phố Tam Trung, phố Thanh Sơn, phố Nà Phía, khu Tân An; Sau năm 1975, thị xã Cao Bằng là thủ phủ của tỉnh Cao Lạng, gồm 4 tiểu khu: Nà Phía, Nội Thị, Sông Bằng, Sông Hiến. Cuối năm 1978, tỉnh Cao Lạng tách ra thành 2 tỉnh là Cao Bằng và Lạng Sơn, thị xã Cao Bằng trở lại là tỉnh lị tỉnh Cao Bằng và ngày càng phát triển. Năm 2010, thị xã đƣợc công nhận là đô thị loại III. Năm 2012, thị xã đƣợc nâng cấp thành thành phố Cao Bằng với 11 đơn vị hành chính gồm 8 phƣờng (Hợp Giang, Tân Giang, Sông Bằng, Sông Hiến, Đề Thám, Hòa Chung, Duyệt Trung, Ngọc Xuân); 3 xã (Hƣng Đạo, Vĩnh Quang, Chu Trinh).
Thành phố Cao Bằng có 84. Tổng số lao động trong độ tuổi toàn thành phố là 31.581 ngƣời, trong đó lao động phi nông nghiệp là 23.327 ngƣời, lao động nông nghiệp là 7. Nguồn nhân lực của thành phố Cao Bằng khá đông, có thể cung ứng đủ nhu cầu về lao động cho các doanh nghiệp có dự án đầu tƣ tại địa phƣơng. Thành phố Cao Bằng là địa bàn sinh sống lâu đời của đồng bào các dân tộc Tày, Nùng, H’mông, Dao, Kinh, Hoa, Sán chỉ, Lô lô… và các dân tộc Thái, Mƣờng, Chăm.
Trong đó có 3 dân tộc chiếm số đông là ngƣời Tày chiếm 47,53%, ngƣời Kinh chiếm 31,78%, ngƣời Nùng chiếm 19,97%; ngoài ra còn khoảng 0,72% là dân tộc khác.