CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ VẤN ĐỀ KINH TẾ TƯ NHÂN Ở VIỆT NAM Kinh tế tư nhân và phát triển KTTN là tất yếu khách quan trong nền kinh tế thị trường, dù là kinh tế thị trường sơ khai, đang phát triển hay đã phát triển. Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam, phát triển KTTN cũng là tất yếu và có tính quy luật. Bên cạnh việc khẳng định vị trí, vai trò động lực của KTTN đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong giai đoạn đầu của quá trình chuyển đổi nền kinh tế, vấn đề quan trọng hơn là xác lập vị trí, vai trò động lực đó một cách đúng đắn, hợp lý, đồng thời có giải pháp để KTTN phát huy cao độ những ưu điểm, hạn chế, khắc phục những nhược điểm cố hữu, phục vụ đắc lực nhất cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong những giai đoạn tiếp theo nhằm sớm hiện thực hóa mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Vấn đề phát triển KTTN còn cấp thiết hơn trong bối cảnh Việt Nam đang tích cực, chủ động đẩy mạnh quá trình hội nhập kinh tế quốc tế với việc tích cực tham gia các Hiệp định thương mại thế hệ mới trong những năm gần đây, để sớm hiện thực hóa mục tiêu “phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại” (Đảng Cộng sản Việt Nam (2016).
76) và “phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa” (Đảng Cộng sản Việt Nam (2021. Vì vậy, trong thời kỳ đổi mới toàn diện đất nước (tháng 12 năm 1986) đến những năm 2021, đặc biệt là trong hai thập niên đầu của thế kỷ XXI, liên quan đến vấn đề phát triển KTTN ở Việt Nam, đã có nhiều đề tài các cấp, các công trình nghiên cứu, luận văn, luận án, bài báo khoa học được công bố ở trong nước và ngoài nước đi vào tìm hiểu, phân tích, đánh giá nhằm làm rõ quá trình hình thành, phát triển, sự tồn tại tất yếu khách quan cũng như vị trí, vai trò động lực quan trọng của khu vực kinh tế này đối với sự phát triển kinh tế của Việt Nam. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài liên quan đến đề tài Các công trình nghiên cứu về KTTN trên thế giới cho đến nay khá nhiều, tuy nhiên, nghiên cứu về KTTN trong nền kinh tế chuyển đổi với bối cảnh của một quốc gia đang xây dựng CNXH chỉ mới được quan tâm ở mức độ thấp. Những công trình nghiên cứu của các tác giả tiêu biểu có: Kongphet Phetsavong và Masaru Ichihashi (2012), “The Impact of Public and Private Investment on Economic Growth: Evidence from Developing Asian Countries” (Tác động của đầu tư công và tư nhân đối với tăng trưởng kinh tế: Bằng chứng từ các nước đang phát triển Châu Á).
Trong công trình này, nhóm tác giả đã luận giải những nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế của khu vực công, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài và khu vực tư nhân trong nước thuộc các nước đang phát triển ở Châu Á trong giai đoạn 1984 – 2009. Kết quả thực nghiệm của công trình nghiên cứu cho thấy, đầu tư của tư nhân trong nước đóng vai trò quan trọng nhất, góp phần tăng trưởng kinh tế của các quốc gia này. Đứng thứ hai là khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, trong khi khu vực công dường như làm tổn hại đến tăng trưởng kinh tế. Ngoài ra, cũng theo nhóm nghiên cứu, khu vực công ở các nước đang phát triển của Châu Á được đầu tư quá lớn đã làm giảm tác động tích cực của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài và đầu tư của tư nhân đối với tăng trưởng kinh tế.
Công trình nghiên cứu “Private sector development and industrial policy: Why, how and for whom?” (Phát triển khu vực tư nhân và chính sách công nghiệp: Tại sao, như thế nào và cho ai?) của Christian Reiner và Cornelia Staritz (2013) đã đi vào luận giải về những tác động của KTTN trong phát triển công nghiệp. Nghiên cứu này chỉ ra rằng đã có sự đồng thuận rộng rãi trong nhận thức và thực tiễn về khu vực tư nhân đóng một vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế. Khu vực KTTN năng động, đổi mới, hiệu quả là động lực của tăng trưởng, tạo việc làm, thu nhập và sự thịnh vượng. Để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao mức sống, Chính phủ các nước đang phát triển cần tạo điều kiện cho KTTN phát triển trong công nghiệp, đồng thời Chính phủ cũng nên tập trung vào các chính sách, cải thiện cơ sở hạ tầng, đảm bảo quyền sở hữu, tạo môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi, giảm gánh nặng pháp lý thông qua bãi bỏ quy định và cung cấp ưu đãi thuế quan 9 hoặc tài chính.
Tuy nhiên, trong bối cảnh toàn cầu hóa và kinh tế tri thức, doanh nghiệp ở các nước đang phát triển, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa phải đối diện với nhiều thách thức khi phải cạnh tranh với các doanh nghiệp ở các quốc gia có nền công nghiệp phát triển. Do đó, Chính phủ các nước đang phát triển cần chú trọng lựa chọn phát triển các ngành công nghiệp có lợi thế so sánh của quốc gia, đồng thời, quan tâm, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa giải quyết khó khăn. Báo cáo “The Role of the State in Vietnam’s Economic Development: Enhancing the Role of the State in Facilitating a More Competitive and Productive Economy” (Vai trò của Nhà nước trong phát triển kinh tế của Việt Nam: Nâng cao vai trò của Nhà nước trong việc tạo điều kiện cho nền kinh tế năng suất và cạnh tranh hơn) của World Bank (2017) đã xác định vai trò thúc đẩy của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường tại Việt Nam. Bản Báo cáo đã khẳng định rằng Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong ba lĩnh vực: chính sách, kinh tế và xã hội.
Báo cáo này đã tập trung vào vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế và phát triển kinh tế. Bản Báo cáo cũng khẳng định rằng: Nhà nước không nên thay thế khu vực tư nhân trong các trường hợp mà thị trường đang, hoặc có thể, hoạt động hiệu quả hoặc nơi có cạnh tranh. Trong một số lĩnh vực trọng yếu (ví dụ: nhằm mục tiêu vào các nhóm dễ bị tổn thương, cải thiện chất lượng và thực thi luật pháp, xây dựng những quy định độc lập và sự tham gia của cộng đồng vào việc lập kế hoạch và giám sát), cần có những thử nghiệm nhiều hơn nhằm tìm ra những phương án tốt nhất để nâng cao tính hiệu quả của nhà nước. Năm 2021, World Bank tiếp tục có nghiên cứu “Country private sector diagnostic: Creating markets in Vietnam” (Nghiên cứu đánh giá khu vực tư nhân: Kiến tạo thị trường tại Việt Nam), nghiên cứu này khẳng định: Khu vực kinh tế tư nhân đóng vai trò tiên phong trong tiến trình phát triển vượt bậc của Việt Nam, từ thúc đẩy đầu tư đến tạo công ăn việc làm và tăng trưởng, khu vực kinh tế tư nhân đã góp phần đưa Việt Nam gia nhập hàng ngũ các nền kinh tế có thu nhập trung bình chỉ sau một thế hệ.
Nhờ mở cửa thương mại và theo đuổi mô hình tăng trưởng hướng đến xuất khẩu, Việt Nam đã thu hút được lượng lớn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào các phân khúc sử dụng nhiều lao động của chuỗi giá trị sản 10 xuất toàn cầu. Tỷ lệ nghèo đói đã giảm từ 50% năm 1990 xuống còn khoảng 2% năm 2018. Hiện nay, Việt Nam là cứ điểm xuất khẩu điện thoại thông minh lớn thứ hai thế giới, sản xuất trên 40% số sản phẩm điện thoại toàn cầu của Samsung - minh chứng cho thành công của chiến lược tăng trưởng này. Các doanh nghiệp tư nhân trong nước cũng năng động không kém với các công ty lớn trong nước đang nổi lên như: Vingroup, VietJet, Masan.
hoạt động trên khắp khu vực Đông Á. Nghiên cứu cũng đã đưa ra những khuyến nghị để tiếp tục phát triển khu vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam: (i) Tạo sân chơi bình đẳng và tăng cường cạnh tranh; (ii) Cải thiện cơ hội tiếp cận tài chính; (iii) Khắc phục chênh lệch và thiếu hụt kỹ năng; (iv) Cải thiện dịch vụ hạ tầng cốt lõi để hỗ trợ tăng trưởng; (v) Khuyến khích tư nhân tham gia nhiều hơn trong du lịch và kinh doanh nông nghiệp. Nghiên cứu về quá trình chuyển biến của KTTN Việt Nam từ nước ngoài (bên ngoài Việt Nam) cũng đã được một số nhà nghiên cứu quan tâm, với những công trình nghiên cứu của các tác giả tiêu biểu: Dixon, C. Forming Social Capital from the Bottom Up: The Emergent Private Sector in Vietnam, 1986 – 2002 (Hình thành vốn xã hội từ dưới lên: Khu vực tư nhân mới nổi ở Việt Nam, 1986 – 2002); ADB (Asian Development Bank) (2005), Private sector assessment in Vietnam (Đánh giá khu vực tư nhân Việt Nam); Schaumburg-Müller Henrik (2005), “Private-sector development in a transition economy: The case of Vietnam” (Phát triển khu vực tư nhân trong nền kinh tế chuyển đổi: Trường hợp của Việt Nam); Katariina Hakkala, and Ari Kokko (2007), The State and The Private Sector in Vietnam (Nhà nước và khu vực tư nhân ở Việt Nam); Beeson, M.
Cụ thể: Công trình nghiên cứu “State, Capital and Resistance to Globalisation in the Vietnamese Transitional Economy” (Nhà nước, vốn và lực cản toàn cầu hóa trong nền kinh tế chuyển đổi của Việt Nam) của Dixon, C. Kilgour (2002) đã xem xét các vấn đề cản trở toàn cầu hóa và sự phân rã của chính quyền trung ương trong bối cảnh Việt Nam. Các tác giả đã lập luận rằng ở Việt Nam, cũng như ở Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, sự phát triển của các yếu tố của nền kinh tế thị trường và hội nhập vào hệ thống toàn cầu đang diễn ra dưới sự bảo trợ của một nhà nước với một đảng, kế hoạch hóa tập trung, tiếp tục khẳng định cam kết của mình đối với sự kiểm soát của nhà nước đối với nền kinh tế. Ngoài ra, các tác giả của công trình nghiên cứu cũng cho rằng mặc dù điều này đã cho phép thực hiện một biện pháp kiểm soát đáng kể đối với các lực lượng toàn cầu hóa kinh tế, nhưng các quá trình cải cách và tăng trưởng kinh tế liên quan cũng như tham gia vào nền kinh tế toàn cầu đang làm suy yếu thẩm quyền của chính quyền trung ương.
Điều này đang ngày càng làm giảm hiệu quả của chính quyền trung ương ở Việt Nam khi quyền lực chuyển nhiều sang chính quyền địa phương hơn.