Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ kinh tế chuyên ngành Kế toán (mã số 9.01) của nghiên cứu sinh Lê Thị Loan, thực hiện tại Học viện Tài chính dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Lưu Đức Tuyên (năm 2023), tập trung nghiên cứu đề tài: "Chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính của các doanh nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu Việt Nam".

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Trong nền kinh tế thị trường, thông tin kế toán trên báo cáo tài chính (BCTC) là căn cứ quan trọng phục vụ quản trị doanh nghiệp cũng như hỗ trợ cơ quan quản lý nhà nước, nhà đầu tư, tổ chức tín dụng và đối tác đưa ra quyết định kinh tế. Tại Việt Nam, nhiều vụ việc gian lận BCTC đã xảy ra trong thực tiễn như tại Công ty Dược Viễn Đông (năm 2011), Công ty Cổ phần Đầu tư khoáng sản Tây Bắc (năm 2012), Tập đoàn Kỹ nghệ gỗ (năm 2016), gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến niềm tin của người sử dụng thông tin (dẫn theo Đào Thị Thúy Hằng, 2022). Hệ thống Chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) hiện hành bộc lộ một số điểm bất cập, thiếu hụt chuẩn mực so với thông lệ quốc tế và chế tài xử lý vi phạm chưa đủ sức răn đe.

Ngành chế biến thủy sản là ngành kinh tế mũi nhọn, đi đầu trong hội nhập quốc tế. Theo số liệu từ Cục Quản lý chất lượng nông lâm sản và thủy sản, tính đến hết năm 2020, cả nước có 798 doanh nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu (DN CBTSXK). Việc tham gia Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) cùng các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như CPTPP và EVFTA mở ra cơ hội mở rộng thị trường, tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu và thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, các doanh nghiệp phải đối diện với tiêu chuẩn khắt khe về an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc và phát triển bền vững. Thực tế công bố thông tin của nhóm doanh nghiệp này còn bộc lộ hạn chế: thông tin chưa cụ thể, thiếu tính so sánh và đặc biệt các dữ liệu kế toán môi trường chưa được phản ánh đầy đủ. Từ thực tiễn đó, luận án xác định ba khoảng trống nghiên cứu cơ bản:

  1. Các công trình nghiên cứu về chất lượng thông tin (CLTT) trên BCTC tại Việt Nam chủ yếu tập trung vào các công ty niêm yết tổng quát, chưa có công trình chuyên sâu đánh giá thực trạng tại các DN CBTSXK trong giai đoạn 2019 - 2021.
  2. Thiếu vắng các nghiên cứu đánh giá mức độ sẵn sàng và tác động của việc định hướng vận dụng Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) theo lộ trình của Bộ Tài chính đối với nhóm DN CBTSXK.
  3. Trong bối cảnh các hiệp định thương mại tự do đặt ra yêu cầu cao về môi trường, chưa có nghiên cứu nào đưa nhân tố "Công bố thông tin kế toán môi trường" vào mô hình đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến CLTT trên BCTC của các DN CBTSXK Việt Nam.

Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát: Đánh giá thực trạng CLTT trên BCTC và phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến CLTT trên BCTC của các DN CBTSXK Việt Nam; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao CLTT trên BCTC của các doanh nghiệp này.

Mục tiêu cụ thể (đánh số theo văn bản):

  • Thứ nhất, hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở lý luận về CLTT trên BCTC của doanh nghiệp.
  • Thứ hai, phân tích, đánh giá thực trạng CLTT trên BCTC của các DN CBTSXK Việt Nam.
  • Thứ ba, xác định các nhân tố ảnh hưởng và đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến CLTT trên BCTC của các DN CBTSXK Việt Nam.
  • Thứ tư, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao CLTT trên BCTC của các DN CBTSXK Việt Nam.

Câu hỏi nghiên cứu (đánh số theo văn bản)

  • Câu hỏi 1: CLTT trên BCTC của các DN CBTSXK Việt Nam được đánh giá ở mức độ nào?
  • Câu hỏi 2: Nhân tố nào ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đó đến CLTT trên BCTC của các DN CBTSXK Việt Nam như thế nào?
  • Câu hỏi 3: Giải pháp nào cần đề xuất để nâng cao CLTT trên BCTC của các DN CBTSXK Việt Nam?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp.
  • Phạm vi không gian: Các doanh nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu trên phạm vi cả nước Việt Nam.
  • Phạm vi thời gian: Thu thập và phân tích dữ liệu BCTC riêng và BCTC hợp nhất của các DN CBTSXK trong giai đoạn từ năm 2019 đến năm 2021. Dữ liệu điều tra khảo sát các đối tượng bên trong và bên ngoài doanh nghiệp được thu thập trong thời gian 4 tháng, từ tháng 11 năm 2021 đến tháng 3 năm 2022.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu đo lường chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính

Luận án tổng hợp các công trình khoa học trong nước và quốc tế, chỉ ra bốn phương pháp đo lường CLTT trên BCTC được áp dụng phổ biến:

Phương pháp Nội dung cơ bản Ưu điểm Nhược điểm Các nghiên cứu tiêu biểu
1. Đo lường thông qua chất lượng lợi nhuận Đánh giá chất lượng lợi nhuận bằng cách xem xét mức độ quản trị lợi nhuận của nhà quản trị DN. Tính toán dựa trên số liệu báo cáo thường niên; mô hình hồi quy cho phép đánh giá ảnh hưởng đặc thù DN đến quản trị lợi nhuận. Khó phân biệt giữa lợi nhuận do nhà quản trị chi phối và không thể chi phối; chỉ tập trung vào chỉ tiêu lợi nhuận, bỏ qua thông tin phi tài chính. Healy và Wahlen (1999); Dechow và cộng sự (1995); Van Tendeloo và Vanstraelen (2005); Phạm Quốc Thuần (2016).
2. Đo lường dựa vào quan hệ giữa lợi nhuận và phản ứng thị trường chứng khoán Số liệu kế toán thay đổi kéo theo sự thay đổi giá cổ phiếu, chứng minh thông tin phù hợp và đáng tin cậy. Dễ thu thập dữ liệu báo cáo thường niên của công ty niêm yết; theo dõi được phản ứng trực tiếp của thị trường. Giá cổ phiếu đôi khi không phản ánh chính xác giá thị trường; bỏ qua thông tin phi tài chính; không áp dụng được cho DN chưa niêm yết. Barth và cộng sự (2001); Nichols và Wahlen (2004).
3. Đo lường dựa vào yếu tố cụ thể trong báo cáo thường niên Xem xét các yếu tố cụ thể như cơ chế quản trị doanh nghiệp, báo cáo kiểm toán, số lần BCTC phải trình bày lại. Đo lường trực tiếp CLTT thông qua các khía cạnh công bố công khai cụ thể. Chỉ tập trung vào một hoặc vài yếu tố đơn lẻ, không cung cấp cái nhìn tổng thể, toàn diện về CLTT. Healy và Wahlen (1999); Leuz (2003); Gearemynck và Willekens (2003); Cohen (2004); Hirschey và cộng sự (2012).
4. Đo lường dựa vào các thuộc tính của CLTT Sử dụng các thuộc tính chất lượng do tổ chức nghề nghiệp quốc tế (FASB, IASB) quy định để đánh giá toàn diện BCTC. Đánh giá trực tiếp và toàn diện cả thông tin tài chính lẫn phi tài chính; áp dụng được cho cả DN niêm yết và chưa niêm yết. Việc mô tả các thuộc tính đòi hỏi sự chuẩn hóa chi tiết; quá trình thu thập dữ liệu khảo sát phức tạp. Jonas và Blanchet (2000); Beest và cộng sự (2009); Nguyễn Trọng Nguyên (2015); Phạm Quốc Thuần (2016); Trần Thị Phương Mai (2020); Đào Thị Nhung (2020).

Luận án lựa chọn phương pháp thứ tư (đo lường dựa trên các thuộc tính của CLTT) làm nền tảng vì đối tượng khảo sát của đề tài bao gồm cả doanh nghiệp niêm yết và doanh nghiệp chưa niêm yết trên thị trường chứng khoán.

Các nghiên cứu về nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin báo cáo tài chính

Trên thế giới, Hongjiang Xu và cộng sự (2003) nghiên cứu định tính tại Úc, chỉ ra nhóm nhân tố con người, hệ thống, tổ chức và môi trường bên ngoài tác động đến chất lượng hệ thống thông tin kế toán. Nunuy Nur Afiah và Dien Noviany Rahmatika (2014) tại Indonesia xác định năng lực tổ chức và hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB) tác động có ý nghĩa thống kê đến CLTT kế toán. Rapina (2014) chỉ ra sự cam kết của nhà quản trị, văn hóa doanh nghiệp và cơ cấu tổ chức quản lý ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng hệ thống thông tin kế toán.

Tại Việt Nam, Phạm Quốc Thuần (2016) khảo sát 269 doanh nghiệp, xác định 8 nhân tố ảnh hưởng: Kiểm toán độc lập, Hành vi quản trị lợi nhuận, Áp lực từ thuế, Hỗ trợ từ phía nhà quản trị, Đào tạo và bồi dưỡng, Chất lượng phần mềm kế toán, Hiệu quả hệ thống KSNB, Năng lực nhân viên kế toán. Trần Thị Phương Mai (2020) nghiên cứu các công ty niêm yết phi tài chính, xác định 6 nhân tố tác động: Nhân viên kế toán, KSNB, Vận dụng chuẩn mực BCTC quốc tế, Hành vi quản trị lợi nhuận, Chất lượng kiểm toán độc lập và Vai trò điều tiết của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước. Mai Thị Hoa (2020) nghiên cứu tính minh bạch BCTC chịu tác động bởi môi trường pháp lý, nhân viên kế toán, ban kiểm soát, kiểm toán độc lập, hội đồng quản trị, phần mềm kế toán và ban giám đốc. Lê Thị Trâm Anh (2022) phân tích mức độ công bố thông tin tài chính chịu tác động từ công ty kiểm toán độc lập, đòn bẩy tài chính, quy mô ban giám đốc, tổng tài sản và vốn hóa. Đào Thị Nhung (2020) nghiên cứu 7 nhân tố ảnh hưởng tại các DN xây lắp niêm yết: KSNB, Trình độ nhân viên kế toán, Đặc thù ngành, Quản trị lợi nhuận, Môi trường pháp lý, Tổ chức kiểm toán độc lập, Vai trò nhà quản trị. Hoàng Thị Mai Lan (2021) xác định 7 nhân tố ở DN khai thác công trình thủy lợi. Nguyễn Hoàng Huyền Thanh (2021) khảo sát 217 mẫu tại các doanh nghiệp dệt may, chỉ ra 5 yếu tố: Quản trị lợi nhuận, Áp lực cơ quan thuế, Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, Năng lực nhân viên kế toán và Chất lượng kiểm toán.

Vị trí và khoảng trống luận án giải quyết

Kế thừa các nghiên cứu trước, luận án thiết lập vị trí nghiên cứu độc lập thông qua việc: (1) Khảo sát thực nghiệm trên mẫu chuyên biệt là các DN CBTSXK Việt Nam; (2) Vận dụng khung thuộc tính chất lượng của IASB (2018); (3) Bổ sung nhân tố mới "Công bố thông tin kế toán môi trường" nhằm phản ánh chính xác đòi hỏi phát triển bền vững của ngành thủy sản xuất khẩu; (4) Đánh giá vai trò của việc định hướng áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế IFRS trong bối cảnh hội nhập.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án tiếp cận BCTC dưới góc độ chuẩn mực quốc tế (IAS 01) và chuẩn mực Việt Nam (VAS 21), khẳng định BCTC là sản phẩm tổng hợp phản ánh tình hình tài chính, kết quả kinh doanh và các luồng tiền nhằm đáp ứng nhu cầu ra quyết định kinh tế của các đối tượng bên trong và bên ngoài doanh nghiệp.

Khung thuộc tính chất lượng thông tin: Luận án căn cứ vào khuôn mẫu lý thuyết của IASB (2018) và Beest cùng cộng sự (2009), chia CLTT trên BCTC thành hai nhóm thuộc tính:

  • Thuộc tính cơ bản: Tính thích hợp (Relevance) và Tính trình bày trung thực (Faithful representation).
  • Thuộc tính bổ sung/nâng cao: Khả năng so sánh (Comparability), Khả năng kiểm chứng (Verifiability), Tính kịp thời (Timeliness) và Tính dễ hiểu (Understandability).

Nguyên tắc lập và trình bày BCTC: Tuân thủ 7 nguyên tắc cơ bản gồm: Trình bày trung thực và tuân thủ chuẩn mực; Hoạt động liên tục; Cơ sở kế toán dồn tích; Tính nhất quán; Trọng yếu và tập hợp; Không bù trừ; Có thể so sánh.

Bảng so sánh khác biệt cơ bản giữa IAS/IFRS và VAS về hệ thống BCTC theo tổng hợp của luận án:

Loại BCTC Quy định của IAS/IFRS Quy định của VAS
Bảng cân đối kế toán / Báo cáo tình hình tài chính Không quy định biểu mẫu cứng nhắc về cấu trúc; chỉ quy định các nội dung tối thiểu cần trình bày. Quy định chi tiết cấu trúc, mã số và việc trình bày từng khoản mục theo mẫu biểu thống nhất trong chế độ kế toán.
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh / Báo cáo lãi hoặc lỗ và thu nhập toàn diện khác Cho phép DN chọn 1 trong 2 hình thức: (1) Báo cáo thu nhập toàn diện chung gồm Báo cáo lãi/lỗ và Báo cáo thu nhập toàn diện khác; hoặc (2) Hai báo cáo riêng biệt độc lập. Quy định mẫu biểu chi tiết phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh gồm hoạt động kinh doanh chính, hoạt động tài chính và hoạt động khác; không có Báo cáo thu nhập toàn diện khác riêng.
Báo cáo thay đổi vốn chủ sở hữu Trình bày thành một báo cáo tài chính riêng biệt trong hệ thống BCTC chính thức. Không lập thành báo cáo riêng mà trình bày thành một mục chuyên biệt trong Bản thuyết minh BCTC.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp nghiên cứu định lượng.

1. Phương pháp định tính:

  • Nghiên cứu văn bản pháp luật: Luật Kế toán số 14/VBHN-VPQH, hệ thống VAS, thông tư hướng dẫn kế toán doanh nghiệp, các quy chuẩn kỹ thuật xuất khẩu và hiệp định thương mại (CPTPP, EVFTA).
  • Kỹ thuật thảo luận nhóm và phỏng vấn sâu: Tham khảo ý kiến chuyên gia gồm các giảng viên chuyên ngành Kế toán - Kiểm toán tại các trường đại học, ban giám đốc, giám đốc tài chính, kế toán trưởng và cán bộ kiểm soát nội bộ tại các DN CBTSXK nhằm hoàn thiện và hiệu chỉnh các thang đo quan sát.

2. Phương pháp định lượng:

  • Nguồn dữ liệu: Dữ liệu thứ cấp trích xuất từ BCTC riêng và hợp nhất giai đoạn 2019 - 2021 của các DN CBTSXK; dữ liệu sơ cấp thu thập qua khảo sát bằng bảng hỏi sử dụng thang đo Likert 5 mức độ (từ 1: Hoàn toàn không đồng ý đến 5: Hoàn toàn đồng ý) trong giai đoạn từ tháng 11/2021 đến tháng 3/2022.
  • Đối tượng khảo sát: Phân bổ thành hai nhóm:
    • Nhóm bên trong doanh nghiệp: Giám đốc, Phó Giám đốc, Giám đốc tài chính, Ban kiểm soát, Kiểm soát nội bộ, Kế toán viên.
    • Nhóm bên ngoài doanh nghiệp: Cán bộ cơ quan thuế, nhân viên tín dụng ngân hàng quản lý khách hàng thủy sản, các nhà đầu tư.
  • Kỹ thuật phân tích dữ liệu trên SPSS 20.0:
    • Thống kê mô tả các biến nghiên cứu và mẫu khảo sát.
    • Kiểm định độ tin cậy của thang đo thông qua hệ số Cronbach's Alpha (loại các biến có tương quan biến - tổng nhỏ hơn 0,3; thang đo đạt độ tin cậy khi Alpha $\ge$ 0,6).
    • Phân tích nhân tố khám phá (EFA) cho biến phụ thuộc và biến độc lập: sử dụng hệ số KMO (Kaiser-Meyer-Olkin), kiểm định Bartlett’s Test of Sphericity, phương sai trích và hệ số tải nhân tố (Factor Loading $\ge$ 0,5).
    • Kiểm định tương quan tuyến tính Pearson nhằm phát hiện mối liên hệ giữa các biến trước khi đưa vào hồi quy.
    • Phân tích hồi quy tuyến tính đa biến xác định hệ số tác động; kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến thông qua hệ số phóng đại phương sai (VIF) và kiểm định hiện tượng tự tương quan.
    • Kiểm định Independent Samples T-test và phân tích phương sai ANOVA để đánh giá sự khác biệt về CLTT theo quy mô doanh nghiệp, tình trạng niêm yết chứng khoán và việc sử dụng dịch vụ kiểm toán độc lập.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Lý luận về chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp

Chương 1 hệ thống hóa toàn diện các lý luận nền tảng về BCTC và chất lượng thông tin kế toán. Tác giả phân tích các yếu tố cốt lõi của BCTC gồm hai nhóm: nhóm phản ánh tình hình tài chính (Tài sản, Nợ phải trả, Vốn chủ sở hữu) và nhóm phản ánh tình hình kinh doanh (Doanh thu và thu nhập khác, Chi phí, Lợi nhuận); đồng thời xác định điều kiện ghi nhận nghiêm ngặt cho từng yếu tố dựa trên tính chắc chắn của lợi ích kinh tế tương lai và khả năng xác định giá trị đáng tin cậy.

Chương này phân định rõ nhu cầu thông tin của các nhóm đối tượng sử dụng: nhóm bên ngoài (Chính phủ, cơ quan thuế, nhà đầu tư, chủ nợ, nhà cung cấp, kiểm toán viên) và nhóm bên trong (nhà quản trị doanh nghiệp, người lao động). Về khái niệm CLTT, tác giả tiếp cận đa chiều từ quan điểm của Le Moigne (1978), Sylvanus (1999), Gelinas và cộng sự (2008), tiêu chuẩn ISO 9000:2015, Deming (1986), Mouzhi (2009) và Baltzan (2012) để xác lập định nghĩa: CLTT trên BCTC là tập hợp các thuộc tính của thông tin trên BCTC theo quy định và phù hợp với mục đích sử dụng của các đối tượng bên trong và bên ngoài doanh nghiệp.

Chương 1 chi tiết hóa các thuộc tính CLTT theo hướng dẫn của IASB (2018), bao gồm hai thuộc tính cơ bản (tính thích hợp, tính trung thực) và bốn thuộc tính nâng cao (khả năng so sánh, khả năng kiểm chứng, tính kịp thời, tính dễ hiểu). Cuối cùng, tác giả tổng kết các lý thuyết nền tảng (lý thuyết đại diện, lý thuyết tín hiệu, lý thuyết các bên liên quan) và hệ thống hóa mô hình nghiên cứu gồm 6 nhóm nhân tố tác động đến CLTT trên BCTC: Năng lực của nhân viên kế toán, Kiểm soát nội bộ, Sự hỗ trợ của nhà quản trị, Ứng dụng công nghệ thông tin, Vận dụng chuẩn mực kế toán quốc tế, và Công bố thông tin kế toán môi trường, cùng với 3 biến kiểm soát (Niêm yết chứng khoán, Kiểm toán độc lập, Quy mô doanh nghiệp).

Chương 2: Thực trạng chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính của các doanh nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu Việt Nam

Chương 2 trình bày bức tranh tổng thể về ngành thủy sản Việt Nam, phân tích ma trận SWOT của ngành, thống kê sản lượng thủy sản và nuôi trồng thủy sản giai đoạn 2015 - 2022, kim ngạch xuất khẩu giai đoạn 1998 - 2022, và phân tích cơ cấu bộ máy quản lý tại các đơn vị điển hình như Công ty CP Thủy sản số 4, Công ty CP Vĩnh Hoàn, Công ty TNHH Chế biến Hải sản Hòa Hải, DNTN Phùng Hưng.

Về thực trạng CLTT, kết quả khảo sát thống kê mô tả chỉ ra điểm số trung bình của 6 thuộc tính phản ánh CLTT trên BCTC của các DN CBTSXK:

Thuộc tính chất lượng thông tin Nhóm thuộc tính theo chuẩn IASB Đánh giá thực trạng tại các DN CBTSXK
Tính thích hợp Thuộc tính cơ bản Điểm đánh giá ở mức trung bình; việc dự đoán dòng tiền và giá trị xác nhận còn hạn chế.
Tính trung thực Thuộc tính cơ bản Đánh giá ở mức trung bình; nhiều ước tính kế toán và dự phòng chưa thực sự khách quan.
Tính có thể so sánh Thuộc tính bổ sung Đạt mức khá; thông tin số liệu so sánh giữa các kỳ được duy trì tương đối nhất quán.
Tính có thể kiểm chứng Thuộc tính bổ sung Đạt mức khá cao; có đầy đủ chứng từ chứng minh các nghiệp vụ kinh tế phát sinh.
Tính kịp thời Thuộc tính bổ sung Đạt mức khá; thời hạn nộp và công bố BCTC tuân thủ tương đối tốt quy định pháp luật.
Tính dễ hiểu Thuộc tính bổ sung Đạt mức khá; cách thức phân loại khoản mục rõ ràng theo quy định của chế độ kế toán.

Kết quả tổng hợp cho thấy một phát hiện thực nghiệm quan trọng: các thuộc tính bổ sung được người sử dụng thông tin đánh giá ở mức cao hơn so với các thuộc tính cơ bản. Các minh chứng BCTC thực tế tại Công ty CP Thủy sản Sóc Trăng, Công ty CP Tập đoàn Thủy sản Minh Phú, Công ty CP XNK Thủy sản Miền Trung, Công ty CP Thủy sản và Thương mại Thuận Phước, Công ty CP Nam Việt cho thấy hạn chế trong việc sử dụng giá trị hợp lý để ghi nhận tài sản và nợ phải trả tài chính, lập báo cáo bộ phận và thuyết minh sự kiện sau ngày kết thúc niên độ kế toán.

Kết quả kiểm định định lượng trên SPSS 20.0 xác nhận:

  • Thang đo đạt độ tin cậy với hệ số Cronbach’s Alpha và phân tích nhân tố khám phá EFA đạt yêu cầu (hệ số KMO phù hợp, kiểm định Bartlett có ý nghĩa thống kê $p < 0,05$, tổng phương sai trích đạt chuẩn).
  • Phân tích tương quan Pearson và hồi quy tuyến tính đa biến khẳng định 6 nhân tố đều có ảnh hưởng cùng chiều, có ý nghĩa thống kê đến CLTT trên BCTC của các DN CBTSXK Việt Nam: (1) Năng lực của nhân viên kế toán; (2) Kiểm soát nội bộ; (3) Sự hỗ trợ của nhà quản trị; (4) Ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác kế toán; (5) Vận dụng chuẩn mực kế toán quốc tế; (6) Công bố thông tin kế toán môi trường.
  • Kiểm định Independent Samples T-test và ANOVA chỉ ra có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về CLTT trên BCTC giữa: nhóm doanh nghiệp có niêm yết chứng khoán và không niêm yết; nhóm doanh nghiệp được kiểm toán bởi công ty kiểm toán độc lập; và nhóm doanh nghiệp có quy mô lớn so với nhóm quy mô vừa.

Chương này cũng phân tích sâu thực trạng công bố thông tin kế toán môi trường: các DN CBTSXK hầu như chưa ghi nhận tài sản môi trường, nợ phải trả môi trường riêng biệt, chi phí môi trường thường được hạch toán chung vào chi phí sản xuất chung hoặc chi phí quản lý doanh nghiệp mà không được bóc tách trên thuyết minh BCTC. Tác giả chỉ ra nguyên nhân của các hạn chế bắt nguồn từ: áp lực chi phí tuân thủ, thiếu hướng dẫn kế toán môi trường cụ thể từ Bộ Tài chính, trình độ nhân viên kế toán chưa đồng đều và sự quan tâm chưa đúng mức của ban quản trị đối với các thông tin phi tài chính.

Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính của các doanh nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu Việt Nam

Chương 3 xây dựng các giải pháp dựa trên Chiến lược phát triển ngành thủy sản Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn 2045 và 4 yêu cầu cốt lõi: phù hợp xu thế hội nhập quốc tế, tương thích với đặc thù sản xuất kinh doanh thủy sản, chú trọng phát triển nhân lực kế toán, và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin.

Tác giả đề xuất hệ thống 9 giải pháp cụ thể:

  1. Nâng cao tính thích hợp của thông tin: Tăng cường cung cấp thông tin dự báo, lập báo cáo bộ phận chi tiết theo dòng sản phẩm xuất khẩu và thị trường địa lý.
  2. Nâng cao tính trung thực của thông tin: Áp dụng các nguyên tắc đo lường giá trị hợp lý đối với tài sản sinh học và công cụ tài chính; giảm thiểu việc can thiệp vào các ước tính kế toán.
  3. Tăng cường tính kịp thời: Xây dựng quy trình chốt số liệu kế toán định kỳ nhanh chóng, rút ngắn thời gian lập BCTC quý và năm.
  4. Nâng cao năng lực nhân viên kế toán: Đào tạo chứng chỉ nghề nghiệp quốc tế, cập nhật kiến thức về chuẩn mực IFRS và kỹ năng phân tích tài chính.
  5. Hoàn thiện kiểm soát nội bộ: Thiết lập môi trường kiểm soát chặt chẽ từ khâu thu mua nguyên liệu, quản lý hao hụt chế biến đến xuất kho xuất khẩu; tăng cường kiểm toán nội bộ.
  6. Tăng cường sự hỗ trợ của nhà quản trị: Nhà quản lý cần đầu tư thỏa đáng cho bộ máy kế toán, tôn trọng tính độc lập chuyên môn của kiểm soát viên và kế toán trưởng.
  7. Ứng dụng công nghệ thông tin hiệu quả: Triển khai đồng bộ hệ thống phần mềm hoạch định nguồn lực doanh nghiệp (ERP), số hóa quy trình kế toán kho và chuỗi cung ứng thủy sản.
  8. Định hướng vận dụng chuẩn mực kế toán quốc tế: Xây dựng lộ trình chuyển đổi báo cáo theo chuẩn mực IFRS/VFRS phù hợp với quy mô và khả năng của từng nhóm doanh nghiệp.
  9. Tăng cường công bố thông tin kế toán môi trường: Thiết lập tài khoản theo dõi riêng và trình bày trên thuyết minh BCTC các chỉ tiêu về chi phí xử lý nước thải, bùn thải, khí thải, tài sản kiểm soát ô nhiễm và các khoản dự phòng hoàn nguyên môi trường.

Về điều kiện thực hiện, tác giả kiến nghị chi tiết trách nhiệm đối với Chính phủ và các Bộ ngành, Bộ Tài chính (sớm ban hành chuẩn mực kế toán môi trường và hướng dẫn VFRS), Cơ quan Thuế (minh bạch hóa chính sách, giảm áp lực điều chỉnh kế toán theo thuế), Hiệp hội nghề nghiệp (VASEP, VAA) và các cơ sở đào tạo đại học.


Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn:

  • Về mặt lý luận: Hệ thống hóa cơ sở lý luận về BCTC và CLTT trên BCTC trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế; làm sáng tỏ các thuộc tính chất lượng thông tin theo khuôn mẫu IASB (2018); tổng hợp các lý thuyết nền tảng giải thích cơ chế tác động của các nhân tố quản trị, công nghệ, nhân lực và môi trường đến CLTT trên BCTC.
  • Về mặt thực tiễn:
    • Đo lường thực trạng 6 thuộc tính CLTT trên BCTC của các DN CBTSXK Việt Nam giai đoạn 2019 - 2021, phát hiện đặc điểm: thuộc tính bổ sung được đánh giá cao hơn thuộc tính cơ bản.
    • Kiểm định và lượng hóa thành công mô hình 6 nhân tố ảnh hưởng cùng chiều đến CLTT trên BCTC của các DN CBTSXK; trong đó lần đầu tiên đưa nhân tố "Công bố thông tin kế toán môi trường" vào mô hình như một nhân tố mới có ý nghĩa thống kê và mang tính đặc thù ngành.
    • Chứng minh sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về CLTT trên BCTC giữa các nhóm doanh nghiệp có niêm yết và không niêm yết chứng khoán, có kiểm toán độc lập và quy mô doanh nghiệp khác nhau.
    • Đề xuất hệ thống 9 giải pháp đồng bộ gắn với bối cảnh triển khai lộ trình áp dụng IFRS tại Việt Nam và Chiến lược phát triển ngành thủy sản đến năm 2030, tầm nhìn 2045.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án (được tác giả nêu trong văn bản):

  • Phạm vi dữ liệu BCTC chỉ giới hạn trong giai đoạn 3 năm (2019 - 2021), giai đoạn chịu nhiều xáo trộn do dịch bệnh và biến động chuỗi cung ứng toàn cầu.
  • Mẫu khảo sát sơ cấp được thực hiện trong khoảng thời gian 4 tháng (11/2021 - 3/2022) với số lượng quan sát nhất định tại các DN CBTSXK, chưa mở rộng ra toàn bộ các phân ngành thủy sản khác như khai thác hay dịch vụ hậu cần nghề cá.
  • Một số nhân tố tiềm năng khác tác động đến CLTT (như biến động kinh tế vĩ mô, văn hóa doanh nghiệp chi tiết) chưa được đưa vào mô hình định lượng.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng phạm vi thời gian nghiên cứu sang các năm tiếp theo khi Bộ Tài chính chính thức áp dụng Chuẩn mực báo cáo tài chính Việt Nam (VFRS) để so sánh biến động CLTT trước và sau chuyển đổi.
  • Mở rộng đối tượng nghiên cứu sang các doanh nghiệp chế biến nông - lâm - thủy sản nói chung hoặc so sánh thực nghiệm giữa ngành thủy sản với các ngành xuất khẩu chủ lực khác (dệt may, da giày).
  • Nghiên cứu sâu hơn về mô hình định lượng kế toán môi trường, đánh giá mức độ tương quan giữa chi phí môi trường công bố với hiệu quả tài chính dài hạn của doanh nghiệp.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo chuyên môn cho nhiều đối tượng:

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Kế toán - Kiểm toán: Luận án cung cấp quy trình nghiên cứu hỗn hợp mẫu mực, kết hợp giữa rà soát văn bản chuẩn mực kế toán (IAS/IFRS, VAS) với kỹ thuật định lượng SPSS 20.0 (Cronbach’s Alpha, EFA, hồi quy tuyến tính, T-test, ANOVA). Thang đo các thuộc tính CLTT theo IASB (2018) và thang đo kế toán môi trường là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nghiên cứu tiếp theo.
  • Đối với các doanh nghiệp CBTSXK, kế toán trưởng và kiểm soát viên nội bộ: Là tài liệu thực tiễn giúp nhận diện các điểm nghẽn trong công tác lập và trình bày BCTC, đặc biệt là quy trình ghi nhận tài sản tài chính theo giá trị hợp lý, lập báo cáo bộ phận và bóc tách các chỉ tiêu kế toán môi trường phục vụ đáp ứng các tiêu chuẩn xanh của các thị trường nhập khẩu (EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản).
  • Đối với các nhà hoạch định chính sách (Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế, VASEP): Cung cấp bằng chứng thực nghiệm về khoảng cách giữa VAS và IFRS tại một ngành xuất khẩu trọng điểm, làm căn cứ ban hành hướng dẫn thực thi chuẩn mực kế toán mới và hoàn thiện chế tài kiểm soát tính minh bạch của thông tin doanh nghiệp.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án sử dụng phương pháp nào để đo lường chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính?
Luận án áp dụng phương pháp đo lường dựa vào các thuộc tính của CLTT theo quan điểm của IASB (2018) và Beest cùng cộng sự (2009). Thang đo bao gồm hai thuộc tính cơ bản (tính thích hợp, tính trình bày trung thực) và bốn thuộc tính bổ sung/nâng cao (khả năng so sánh, khả năng kiểm chứng, tính kịp thời, tính dễ hiểu), áp dụng thang đo Likert 5 mức độ để khảo sát các bên liên quan.

2. Nhân tố mới nào mang tính đặc thù được tác giả đưa vào mô hình phân tích định lượng?
Nhân tố mới được tác giả đưa vào mô hình là "Công bố thông tin kế toán môi trường". Nhân tố này đánh giá việc nhận diện, theo dõi và công bố thông tin liên quan đến tài sản môi trường, nợ phải trả môi trường, chi phí môi trường và lợi ích môi trường trên BCTC của các DN CBTSXK.

3. Kết quả đánh giá thực trạng các thuộc tính chất lượng thông tin tại các DN CBTSXK có đặc điểm gì nổi bật?
Kết quả khảo sát thực nghiệm cho thấy các thuộc tính bổ sung (khả năng kiểm chứng, tính dễ hiểu, tính kịp thời, khả năng so sánh) được người trả lời đánh giá ở mức điểm trung bình cao hơn so với hai thuộc tính cơ bản (tính thích hợp và tính trình bày trung thực).

4. Những biến kiểm soát nào được đưa vào kiểm định sự khác biệt về chất lượng thông tin?
Luận án đưa vào 3 biến kiểm soát gồm: tình trạng niêm yết chứng khoán (niêm yết và chưa niêm yết), hoạt động kiểm toán độc lập (có hoặc không có kiểm toán độc lập), và quy mô doanh nghiệp (quy mô lớn và quy mô vừa). Kết quả kiểm định T-test và ANOVA khẳng định có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về CLTT giữa các nhóm này.

5. Dữ liệu thực nghiệm của luận án được thu thập từ những đối tượng nào và trong khoảng thời gian nào?
Dữ liệu BCTC được thu thập trong 3 năm (2019 - 2021). Dữ liệu điều tra khảo sát được thực hiện từ tháng 11/2021 đến tháng 3/2022, thu thập từ các đối tượng bên trong (Giám đốc, Phó Giám đốc, Giám đốc tài chính, Ban kiểm soát, Kiểm soát nội bộ, Kế toán) và đối tượng bên ngoài (Cán bộ thuế, nhân viên ngân hàng, nhà đầu tư).


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Lê Thị Loan đã giải quyết trọn vẹn mục tiêu nghiên cứu thông qua việc làm rõ lý luận, đánh giá thực trạng và lượng hóa các nhân tố ảnh hưởng đến CLTT trên BCTC của các DN CBTSXK Việt Nam. Nghiên cứu khẳng định vai trò đồng thời của năng lực chuyên môn kế toán, kiểm soát nội bộ, sự hỗ trợ từ ban quản trị, ứng dụng công nghệ, việc định hướng áp dụng chuẩn mực quốc tế và đặc biệt là sự minh bạch hóa thông tin kế toán môi trường. Các kết quả thực nghiệm và hệ thống 9 nhóm giải pháp do luận án đề xuất là căn cứ khoa học thiết thực, góp phần hỗ trợ doanh nghiệp thủy sản Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh và đáp ứng các chuẩn mực công bố thông tin trong tiến trình hội nhập kinh tế toàn cầu.