CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA TỚI HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA Hoạt động của các DNNVV phụ thuộc một cách trực tiếp và gián tiếp vào chính sách thu và các quyết định chi tiêu của Chính phủ qua nhiều kênh và phương thức tác động. Điều này đã được phân tích trong các nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm tại nhiều quốc gia khác nhau. Chương này tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm về ảnh hưởng của CSTK tới hoạt động của các DNNVV trên thế giới và Việt Nam, từ đó xác định khoảng trống nghiên cứu cho luận án. Các nghiên cứu về ảnh hưởng của chính sách tài khóa tới hoạt động của doanh nghiệp qua kênh thu nhập công Các nguồn thu chính của quốc gia bao gồm thuế, phí, lệ phí; các khoản thu từ hoạt động kinh tế của nhà nước; các khoản đóng góp của các tổ chức và cá nhân; các khoản thu khác theo quy định của pháp luật.
Trong đó thuế được xem là nguồn thu chính của quốc gia (Musgrave, 1989)[153]. Các khoản thu có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới nguồn lực của DN, đặc biệt là các DNNVV. Đây cũng là chủ đề thu hút được sự quan tâm của rất nhiều tác giả trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Các nghiên cứu về ảnh hưởng trực tiếp của chính sách thu tới hoạt động của các DNNVV 1.
Các nghiên cứu nước ngoài Một số khoản thu của Chính phủ trực tiếp làm giảm nguồn lực tài chính và gây ra GNNS và từ đó ảnh hưởng tới hoạt động của các DN. Trong đó thuế TNDN là khoản thu ảnh hưởng nhiều nhất và được đề cập trong nhiều nghiên cứu. Hsieh & Parker (2006)[123] lập luận rằng những chính sách thay đổi gánh nặng thuế TNDN là nguyên nhân quan trọng và trực tiếp dẫn tới bùng nổ đầu tư tại Chile. Nhóm tác giả sử dụng dữ liệu cấp DN, cấp ngành và toàn bộ nền kinh tế để chỉ ra rằng giảm thuế đánh vào lợi nhuận kiếm được trong giai đoạn 1984-1986 9 làm tăng đầu tư ở những DN gặp khó khăn về mặt thanh khoản.
Ngược lại, tăng thuế đối với lợi nhuận giữ lại làm giảm các quỹ nội bộ, giảm gánh nặng thuế TNDN, đầu tư DN giảm. Một nghiên cứu khác tại Chile của Vergara (2010)[187] cũng cho kết quả tương tự. Nghiên cứu sử dụng dữ liệu vĩ mô trong giai đoạn 1975-2003 chỉ ra rằng cải cách về thuế, giảm gánh nặng thuế TNDN giải thích sự gia tăng đầu tư tư nhân 3% điểm GDP. Mặt khác dữ liệu vi mô của 87 DN giao dịch thương mại trong giai đoạn 1980-2002 xác nhận ảnh hưởng tích cực của giảm thuế thu nhập lên đầu tư.
Các nghiên cứu này đã cho thấy điều chỉnh thuế ảnh hưởng tới hoạt động đầu tư của các DN. Tuy nhiên lại chưa chỉ ra mức độ ảnh hưởng tới các DN ở các ngành, lĩnh vực và ở các quy mô khác nhau như thế nào. Nghiên cứu về chính sách kích thích đầu tư thông qua các ưu đãi thuế dành cho các DN tại Nga được thực hiện bởi nhóm nghiên cứu Ivanov và cộng sự (2019)[127]. Các chính sách ưu đãi bao gồm những ưu đãi về thuế, phí, thuế xuất nhập khẩu hay các khoản hỗ trợ tài chính trực tiếp cho một số lĩnh vực cụ thể.
Nghiên cứu cho thấy việc áp dụng các công cụ thuế giảm GNNS để kích thích đầu tư cho các DN ở Nga chưa cho kết quả rõ ràng. Hoạt động đầu tư của các DN bị ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố khác thay vì chỉ mỗi thuế. Nghiên cứu này đã đề cập tới chính sách thuế áp dụng cho một số lĩnh vực cụ thể tuy nhiên vẫn chưa đề cập tới yếu tố đặc điểm riêng của DN cũng như trong bối cảnh cụ thể của DN. Nghiên cứu của của Mayende (2013)[146] phân tích những ảnh hưởng của ưu đãi thuế, giảm GNNS lên hoạt động của các công ty sản xuất tại Uganda đo lường thông qua tổng DT và các GTGT.
Kết quả của nghiên cứu cho thấy khi xem xét các chỉ tiêu, những công ty nhận được ưu đãi thuế hoạt động tốt hơn. Trình độ của đội ngũ quản lý, quy mô và số năm hoạt động có ảnh hưởng tích cực lên kết quả kinh doanh. Hàm ý chính sách chủ yếu của nghiên cứu chỉ ra đó là Chính phủ cần sử dụng một cách hợp lý các ưu đãi thuế để thúc đẩy hoạt động của các công ty. Về phía các công ty cần đào tạo và nâng cao kỹ năng cho đội ngũ quản lý để có thể tận dụng các ưu đãi thuế từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động.
10 Tuy nhiên không phải lúc nào chính sách thay đổi gánh nặng thuế TNDN cũng ảnh hưởng tới hoạt động của các DN, điều này được chỉ ra trong nghiên cứu của Goolsbee (2004)[110]. Tác giả sử dụng bộ dữ liệu chéo về các lựa chọn cách thức tổ chức DN, kết quả cho thấy thay đổi gánh nặng thuế TNDN không ảnh hưởng nhiều tới hoạt động thực tế của các DN. Nguyên nhân được tác giả chỉ ra là do thuế TNDN ở Uganda áp dụng mức thuế lũy tiến, các DN đã khai thác quy định này để tránh thuế bằng cách chia nhỏ DN thành nhiều DN khác nhau. Chính sách thuế với DNNVV Các nghiên cứu trên mới đề cập tới ảnh hưởng của thay đổi GNNS và gánh nặng thuế TNND tới DN nói chung.
Trong khi đó, trên thực tế các DNNVV là động lực tăng trưởng của các nền kinh tế. Do đó nhiều chính sách thuế được điều chỉnh làm thay đổi GNNS và gánh nặng thuế TNDN nhằm thúc đẩy sự phát triển của các DN khu vực này. Ảnh hưởng của chính sách thuế tới hoạt động của DNNVV đã được thảo luận trong nhiều nghiên cứu. Nghiên cứu về ảnh hưởng của chính sách thuế làm thay đổi GNNS đối với tăng trưởng của DNNVV của Chen, Lee và Mintz (2002)[81] tại các quốc gia OECD.
Nhóm tác giả nhận thấy các quốc gia này có mức thuế đánh trên lợi nhuận đã phân phối cao sẽ gây ra GNNS,làm hạn chế hoạt động của các DN nhỏ và có thể làm tăng việc dùng nợ của DN. Những quốc gia có ưu đãi về các khoản thu trực tiếp như giảm thuế TNDN, miễn trừ thuế GTGT và các khoản tín dụng thuế đầu tư, giúp giảm GNNS và có tác động tích cực tới hoạt động của các DNNVV. Nghiên cứu về ảnh hưởng của ưu đãi thuế đối với sự tăng trưởng của các DNNVV tại Rwanda của Twesige và Gasheja (2019)[186] được thực hiện thông qua phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng, dựa trên 136 mẫu DNNVV. Phân tích hồi quy bội được sử dụng để giải thích mối quan hệ giữa các biến.
Kết quả cho thấy những khoản chuyển lỗ và hoàn thuế GTGT là những ưu đãi thuế tiêu biểu nhất dành cho các DNNVV ở Rwanda với tỉ lệ tương ứng là 100%, 94,1% và 95,6%. Nghiên cứu cho thấy có mối quan hệ tích cực và chặt chẽ giữa các ưu đãi thuế làm giảm GNNS và sự tăng trưởng của các DNNVV tại Rwanda được thể 11 hiện thông qua hệ số tương quan tương R-square tương đương 88,8%. Theo đó chỉ 11,2% tăng trưởng của DNNVV là do các biến ngoài mô hình. Nghiên cứu kết luận rằng các ưu đãi thuế làm giảm GNNS là chìa khóa cho sự tăng trưởng bền vững của DNNVV.
Chính phủ do đó cần thiết kế các chính sách giải quyết các vấn đề liên quan tới tăng trưởng của các DN này. Các ưu đãi thuế trực tiếp đối với hoạt động R&D cũng được triển khai mạnh mẽ tại các quốc gia với mục đích thúc đẩy đầu tư cho KHCN của DNNVV, đây là cơ sở để DN có thể tăng hiệu suất hoạt động. Busom i Piquer, Corchuelo Martínez- Azua và Martinez Ros (2013)[80] nghiên cứu về việc liệu sử dụng trợ cấp và các ưu đãi thuế cho hoạt động đầu tư R&D và xử lý các vấn đề về tài chính cho các công ty, cũng như tính phù hợp của hai công cụ này. Nhóm tác giả nhận thấy các DNNVV gặp các vấn đề tài chính ưa thích trợ cấp hơn là miễn thuế cho hoạt động R&D.
Các DNNVV sử dụng các biện pháp pháp lý để bảo vệ bản quyền sở hữu lại ưa thích các ưu đãi về thuế hơn. Ngoài các đóng góp từ thuế thì các DNNVV còn phải thực hiện một số nghĩa vụ tài chính khác đối với nhà nước. Thuế sử dụng đất là một khoản nộp ngân sách lớn của các DN tại nhiều quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển. Nghiên cứu về trường hợp của Trung Quốc, một quốc gia có nhiều chính sách về khai thác và sử dụng đất của (Ding, 2003)[90] cho thấy tiền thuế sử dụng đất ở Trung Quốc được phân theo vùng địa lý giữa nông thôn – thành thị và theo diện tích sử dụng đất.
Trên thực tế các DNNVV sử dụng diện tích đất ít do đó mức đóng góp của các DN này không cao. Thuế đất ở Trung Quốc chỉ ở mức trung bình hoặc thấp tuy nhiên các khoản thu NSNN này làm gia tăng đáng kể chi phí gây ra GNNS cho các DN đặc biệt là các DN có quy mô lớn và vừa. Việc khó tiếp cận đất đai cũng là một rào cản trong quá trình phát triển của các DNNVV. Cắt giảm các chi phí đất đai là một trong những ưu đãi hiệu quả và quan trọng giúp giảm chi phí sản xuất và thúc đẩy hoạt động của các DN khu vực này.
Các nghiên cứu trong nước 12 Tại Việt Nam, DNNVV đã và đang ngày càng đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế, thể hiện thông qua đóng góp của khu vực này vào NSNN và số lượng việc làm được tạo ra trong nền kinh tế. Nhằm thúc đẩy hơn nữa sự phát triển của khu vực DN này, trong thời gian qua Chính phủ đã thực hiện nhiều biện pháp giảm GNNS thông qua các chính sách ưu đãi về thu ngân sách đối với các DNNVV. Nghiên cứu của Phan Thị Minh Lý (2011)[33] dựa trên kết quả khảo sát của 112 DNNVV đang hoạt động ở Thừa Thiên Huế. Kết quả hồi quy cho thấy việc điều chỉnh chính sách thuế để thay đổi GNNS khó thực hiện và có mức độ tác động thấp tới hoạt động của DNNVV, đây không phải là những giải pháp ưu tiên được lựa chọn.
Kết quả của nghiên cứu mới phản ánh góc nhìn chủ quan của DN về chính sách thuế, chưa được phản ánh qua các số liệu thực tế về KQHĐ của DN. Phạm vi nghiên cứu của một địa phương cũng không thể đại diện cho toàn bộ mẫu của quốc gia. Ưu điểm của nghiên cứu là đã phân tích trong bối cảnh cụ thể của địa phương.