phần mở đầu, kết luận, luận văn gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý Thuế TNDN đối với DNNVV. Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu. Chƣơng 3: Thực trạng công tác quản lý Thuế TNDN đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Chi cục Thuế TP Việt Trì - Phú Thọ. Chƣơng 4: Giải pháp hoàn thiê ̣n công tác q uản lý Thuế TNDN đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Chi cục thuế TP Việt Trì - Phú Thọ.
Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 4 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. Cơ sở lý luận về quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa 1. Khái quát chung về thuế thu nhập doanh nghiệp 1. Khái niệm thuế thu nhập doanh nghiệp Thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) là thuế trực thu, đánh vào thu nhập chịu thuế của các doanh nghiệp (DN).
Thuế TNDN là một sắc thuế quan trọng nhất của thuế trực thu. Mọi tổ chức có hoạt động SXKD có thu nhập đều là đối tƣợng nộp thuế TNDN. Số thuế đƣợc xác định trên cơ sở thu nhập chịu thuế và thuế suất. Thu nhập chịu thuế đƣợc xác định bao gồm: thu nhập từ hoạt động SXKD hàng hoá, dịch vụ và các khoản thu nhập khác trong kỳ tính thuế, kể cả thu nhập từ hoạt động SXKD hàng hoá, dịch vụ ở nƣớc ngoài.
Thuế suất do Nhà nƣớc quy định. Do đặc điểm của thuế TNDN là muốn xác định thu nhập chịu thuế phải mở sổ sách kế toán theo dõi nên việc kê khai nộp thuế và quyết toán thuế TNDN đƣợc phân định theo mức độ thực hiện chế độ kế toán. Đặc điểm của thuế thu nhập doanh nghiệp Chính sách Thuế TNDN là sắc thuế tính trên thu nhập chịu Thuế (TNCT) của các doanh nghiệp trong kỳ tính thuế. - Chính sách Thuế TNDN đƣợc sử dụng để điều tiết thu nhập của các nhà đầu tƣ nhằm góp phần đảm bảo công bằng xã hội.
- Thuế TNDN là một trong các nguồn thu quan trọng của ngân sách nhà nƣớc và có xu hƣớng tăng lên cùng với sự tăng trƣởng của nền kinh tế. Khi nền kinh tế phát triển, đầu tƣ gia tăng, thu nhập của các doanh nghiệp và của các nhà đầu tƣ tăng lên làm cho khả năng huy động nguồn tài chính cho Nhà nƣớc thông qua thuế TNDN ngày càng ổn định và vững chắc. - Xuất phát từ yêu cầu phải quản lý các hoạt động đầu tƣ và kinh doanh trong từng thời kỳ nhất định, thông qua việc Nhà nƣớc ban hành chính sách quy định ĐTNT, đối tƣợng chịu thuế, sử dụng thuế suất và các ƣu đãi thuế TNDN, Nhà nƣớc Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 5 thực hiện các mục tiêu quản lý kinh tế vĩ mô. Chính sách Thuế TNDN có các đặc điểm sau đây: Thứ nhất, chính sách thuế TNDN là chính sách thuế trực thu, đối tƣợng nộp thuế TNDN là các doanh nghiệp, các nhà đầu tƣ thuộc các thành phần kinh tế khác nhau đồng thời cũng là “ngƣời” chịu thuế.
Thứ hai, mức thuế TNDN phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp hoặc các nhà đầu tƣ. Thuế giá trị gia tăng (GTGT), thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB) là một số tiền cộng thêm vào giá bán của hàng hóa, dịch vụ, ngƣời bán hàng hoặc ngƣời cung cấp dịch vụ là ngƣời tập hợp thuế và nộp vào kho bạc, bởi vậy, nó chủ yếu phụ thuộc vào mức độ tiêu dùng hàng hóa. Thuế TNDN đƣợc xác định trên cơ sở TNCT, nên chỉ khi các doanh nghiệp, các nhà đầu tƣ kinh doanh có lợi nhuận mới phải nộp thuế TNDN. Thứ ba, thuế TNDN là thuế khấu trừ trƣớc thuế thu nhập cá nhân (TNCN).
Thu nhập mà các cá nhân nhận đƣợc từ hoạt động đầu tƣ nhƣ: lợi tức cổ phần, lãi tiền gửi ngân hàng, lợi nhuận do góp vốn liên doanh, liên kết,… là phần thu nhập đƣợc chia sau khi nộp thuế TNDN. Do vậy, thuế TNDN cũng có thể coi là một biện pháp quản lý TNCN. Thứ tư, tuy là thuế trực thu song thuế TNDN không gây phản ứng mạnh mẽ bằng thuế TNCN vì nó không đánh trực tiếp vào thu nhập cá nhân ngƣời chịu thuế. Ở các nƣớc tuy có sự khác nhau về phạm vi bao quát, đối tƣợng áp dụng, các mức thuế suất hoặc các ƣu đãi thuế TNDN, nhƣng trong cách thiết lập thuế TNDN đều quán triệt các nguyên tắc cơ bản nhất định.
Vai trò của Thuế Thu nhập doanh nghiệp - Thuế TNDN là khoản thu quan trọng của NSNN Thuế thu nhập doanh nghiệp là một trong những loại thuế trực thu. Thuế TNDN và thuế thu nhập cá nhân chiếm một tỷ trọng lớn trong cơ cấu thu Ngân sách Nhà nƣớc. Ở các nƣớc phát triển hai loại thuế chủ yếu này đã làm cho thuế trực thu chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu Ngân sách nhà nƣớc. Ví dụ nhƣ Mỹ: thuế trực thu chiếm 74,8%, Nhật Bản là 74%.
Hầu hết các nƣớc có thu nhập quốc dân bình quân đầu ngƣời thấp thì thuế gián thu thƣờng chiếm tỷ trọng lớn trong Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 6 tổng số thuế ngân sách; ví dụ nhƣ: Philipin chiếm 60%; Thái Lan chiếm 66%; Ấn Độ 63%;. Ở Việt nam, tỷ trọng thuế thu nhập doanh nghiệp trong tổng số thu Ngân sách Nhà nƣớc Năm 2009 đạt 52.191 tỷ đồng, chiếm 19,3% trong tổng thu NSNN và bằng 3,15% GDP.297 tỷ đồng, chiếm 22,5% trong tổng thu NSNN và bằng 4,15% GDP.600 tỷ đồng, chiếm 22,4% trong tổng thu NSNN và bằng 3,81% GDP. Tuy nhiên, cùng với xu hƣớng tăng trƣởng kinh tế, quy mô của các hoạt động kinh tế ngày càng đƣợc mở rộng, hiệu quả kinh doanh ngày càng cao sẽ tạo ra nguồn thu về thuế TNDN ngày càng lớn cho NSNN. - Thuế TNDN là công cụ quan trọng của Nhà nƣớc trong việc điều tiết vĩ mô nền kinh tế Nhà nƣớc ban hành một hệ thống pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp áp dụng chung cho các cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế, tạo sự bình đẳng trong cạnh tranh, góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển.
Nhƣ vậy, với các doanh nghiệp cùng sản xuất một mặt hàng nhƣ nhau, cùng bán giá bán trên thị trƣờng nhƣ nhau, nếu cơ sở sản xuất nào càng hạ thấp đƣợc giá thảnh sản phẩm, càng thu đƣợc nhiều lợi nhuận thì càng phát triển mạnh, và ngƣợc lại thì dễ dẫn tới bị phá sản. Thông qua việc xác định phạm vi thu thuế và không thu thuế, Nhà nƣớc thể hiện sự ƣu đãi của mình đối với một số đối tƣợng trong xã hội không phải nộp thuế hoặc thể hiện sự khuyến khích của Nhà nƣớc đối với việc phát triển của một lĩnh vực ở một vùng nào đó. Ngoài việc quy định thuế suất chung cho các cơ sở sản xuất, kinh doanh, Nhà nƣớc cũng đƣa ra thuế suất ƣu đãi để áp dụng đối với từng ngành nghề, mặt hàng, lĩnh vực thể hiện mức độ khuyến khích hay không khuyến khích của Nhà nƣớc đối với những ngành nghề, mặt hàng, lĩnh vực đó trong nền kinh tế. Không những chỉ khuyến khích đầu tƣ bằng việc định ra một thuế suất hợp lý, mà thuế thu nhập doanh nghiệp còn đƣợc sử dụng là một biện pháp khuyến khích bỏ vốn đầu tƣ vào các ngành nghề, mặt hàng, các vùng mà Nhà nƣớc cần tập trung khuyến khích đẩy mạnh sản xuất, khai thác tiềm năng về vốn trong dân cƣ và Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 7 của các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài, hỗ trợ các doanh nghiệp khắc phục khó khăn, rủi ro để phát triển sản xuất bằng việc sử dụng biện pháp miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp theo mức độ khác nhau.
- Thuế TNDN là công cụ quan trọng để nhà nƣớc thực hiện chức năng tái phân phối thu nhập, bảo đảm công bằng xã hội Một trong những mục tiêu của thuế thu nhập doanh nghiệp là điều tiết thu nhập, đảm bảo sự công bằng trong phân phối thu nhập xã hội. Thuế thu nhập doanh nghiệp đƣợc áp dụng cho các loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, không những đảm bảo bình đẳng công bằng về chiều ngang mà còn cả công bằng về chiều dọc. Về chiều ngang, bất kể một doanh nghiệp nào kinh doanh bất cứ hình thức nào nếu có thu nhập chịu thuế thì phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp. Về chiều dọc, cùng một ngành nghề không phân biệt quy mô kinh doanh nếu có thu nhập chịu thuế thì đều phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp.
Với mức thuế suất thống nhất, doanh nghiệp nào có thu nhập cao thì phải nộp thuế nhiều hơn (theo số tuyệt đối) doanh nghiệp có thu nhập thấp. Phạm vi áp dụng Thuế Thu nhập doanh nghiệp - Ngƣời nộp thuế thu nhập doanh nghiệp là tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có thu nhập chịu thuế (sau đây gọi là doanh nghiệp), bao gồm: + Doanh nghiệp đƣợc thành lập và hoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tƣ, Luật các tổ chức tín dụng, Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Chứng khoán, Luật Dầu khí, Luật Thƣơng mại và các văn bản quy phạm pháp luật khác dƣới các hình thức: Công ty cổ phần; Công ty trách nhiệm hữu hạn; Công ty hợp danh; Doanh nghiệp tƣ nhân; Văn phòng Luật sƣ, Văn phòng công chứng tƣ; Các bên trong hợp đồng hợp tác kinh doanh; Các bên trong hợp đồng phân chia sản phẩm dầu khí, Xí nghiệp liên doanh dầu khí, Công ty điều hành chung. + Đơn vị sự nghiệp công lập, ngoài công lập có sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có thu nhập chịu thuế trong tất cả các lĩnh vực. + Tổ chức đƣợc thành lập và hoạt động theo Luật Hợp tác xã.
+ Doanh nghiệp đƣợc thành lập theo quy định của pháp luật nƣớc ngoài (sau đây gọi là doanh nghiệp nƣớc ngoài) có cơ sở thƣờng trú tại Việt Nam. Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.