chương 1 là nền tảng để từ đó dẫn dắt đề tài đi theo thứ tự, giúp cho trình bày được các vấn đề và kết quả một cách rõ ràng, hợp lí và dễ hiểu. Bảo mật 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2.1 Tổng quan về rủi ro tín dụng 2.1 Khái niệm rủi ro tín dụng Hoạt động của NH liên quan đến rất nhiều các ngành nghề, lĩnh vực khác trong nền kinh tế, chính vì thế mà rủi ro cũng trở nên đa dạng hơn. Có thể kể đến một số loại rủi ro đặc trưng của ngành NH như rủi ro lãi suất, rủi ro hoạt động, rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản… “Rủi ro là những biến cố không mong đợi mà khi xảy ra sẽ dẫn đến sự tổn thất về tài sản của NH, giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến hoặc phải bỏ ra thêm một khoản chi phí để có thể hoàn thành một nghiệp vụ tài chính nhất định” (Trần Huy Hoàng, 2011). Trong quá trình NH cấp tín dụng cho KH, sẽ có phát sinh rủi ro tín dụng tuỳ thuộc vào từng trường hợp.
Theo như những điều khoản đã cam kết, KH sẽ phải trả hết nợ gốc lẫn lãi vay theo đúng thời hạn và lộ trình ghi trong hợp đồng. Tuy nhiên vì nhiều lí do mà KH có thể không trả được như cam kết, từ đó sẽ phát sinh rủi ro tín dụng. Lúc đó NH sẽ phải tuỳ theo trường hợp cụ thể và TSBĐ của KH để xử lí. “Rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của NH, biểu hiện trên thực tế qua việc KH không trả được nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho NH” (Trần Huy Hoàng, 2011).2 Các loại rủi ro tín dụng Khi căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, rủi ro tín dụng được phân chia theo sơ đồ 3.1: Bảo mật 6 Rủi ro tín dụng Rủi ro giao Rủi ro danh dịch mục Rủi ro lựa Rủi ro bảo Rủi ro Rủi ro nội Rủi ro tập chọn đảm nghiệp vụ tại trung Sơ đồ 2.1: Phân loại rủi ro tín dụng (Nguồn: Trần Huy Hoàng, 2011.
Giáo trình quản trị ngân hàng) Có thể thấy, rủi ro tín dụng được chia thành hai loại là rủi ro giao dịch và rủi ro danh mục. - Rủi ro giao dịch: là loại rủi ro tín dụng gây nên bởi những hạn chế trong quy trình giao dịch, xét duyệt cho vay và đánh giá phân loại khách hàng. Cụ thể hơn, trong rủi ro giao dịch được chia nhỏ thành rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ. Rủi ro lựa chọn là rủi ro trong quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, khi ngân hàng xem xét, cân nhắc phương án vay vốn có tính khả thi cao, có thể thu hồi nợ gốc và lãi để thực hiện cho vay.
Rủi ro bảo đảm nảy sinh từ các yếu tố đảm bảo như điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại TSBĐ, chủ thể đảm bảo, cách thức đảm bảo và mức cho vay trên trị giá của TSBĐ. Bảo mật 7 Rủi ro nghiệp vụ là loại rủi ro liên quan đến công tác quản lí khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kĩ thuật xử lý các khoản cho vay có vấn đề. - Rủi ro danh mục: là loại rủi ro tín dụng mà nguyên nhân do những hạn chế trong quản lí danh mục cho vay của ngân hàng, bao gồm rủi ro nội tại và rủi ro tập trung. Rủi ro nội tại bắt nguồn từ đặc điểm riêng biệt trong việc hoạt động và sử dụng vốn của khách hàng đi vay.
Đây là rủi ro đặc tính chỉ có ở từng đối tượng đi vay, ngành nghề kinh tế. Rủi ro tập trung là rủi ro khi ngân hàng sử dụng vốn cho vay quá nhiều đối với một số doanh nghiệp trong cùng một ngành, trong vùng địa lí nhất định, cùng một loại hình cho vay rủi ro cao.3 Biểu hiện rủi ro tín dụng Trong suốt quá trình cho vay, nếu như xảy ra các rủi ro tín dụng sẽ có một số biểu hiện đi kèm nhất định mà các cán bộ, NVTD cần phải chú ý. Có thể xem xét dựa theo nhiều khía cạnh khác nhau, từ các giấy tờ báo cáo cho đến quan sát thực tế. - Từ các báo cáo tài chính: Những gian lận, không minh bạch trong sổ sách và báo cáo tài chính: khi cán bộ tín dụng xem xét sổ sách và báo cáo tài chính, bằng nghiệp vụ chuyên môn của mình, sẽ dễ nhận ra những gian lận.
Doanh nghiệp trễ trong việc nộp báo cáo tài chính cho NH: NH cần phải có sự hối thúc doanh nghiệp, nếu như DN chậm nộp báo cáo tài chính tức là có vấn đề, cần phải kiểm tra lại. Khả năng thanh khoản giảm: khi DN sự sút giảm trong khả năng thanh khoản, nghĩa là doanh nghiệp không có khả năng thanh toán các khoản phải trả đến hạn, dễ dẫn đến rủi ro cho NH. Bảo mật 8 Xuất hiện các khoản lỗ trong việc kinh doanh: điều này đồng nghĩa với việc DN đang trong giai đoạn kinh doanh đi xuống, NH phải xem lại để tránh việc DN không trả được nợ vay đúng hạn. Hàng tồn kho lớn so với các DN cùng ngành, mục khoản phải thu lớn và xuất hiện khoản dự phòng nợ phải thu khó đòi: thể hiện DN đang khó khăn trong việc sản xuất kinh doanh, đồng thời khó đòi được nhiều khoản nợ.
Tài sản cố định có sự thay đổi lớn: tài sản cố định có liên quan đến việc DN thay đổi quy mô hoạt động. Khi tài sản cố định thay đổi quá lớn đều thể hiện DN đang không ổn định trong tình hình hoạt động. Doanh thu không ổn định, có sự tăng hoặc giảm mạnh: khi doanh thu tăng mạnh, DN dễ dàng có những rủi ro trong vấn đề quản lí hoạt động bởi quy mô và khả năng kinh doanh có thể vượt tầm kiểm soát của công ty. Nếu doanh thu sụt giảm nghiêm trọng, chứng tỏ DN hoạt động yếu kém.
Sự chênh lệch lớn giữa tổng doanh thu và thu nhập ròng hoạt động: điều này thể hiện tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp không có hiệu quả. Doanh thu tăng nhưng lợi nhuận giảm: yếu tố này chứng tỏ chi phí của doanh nghiệp quá cao, hoạt động không có hiệu quả. - Từ hoạt động kinh doanh Thay đổi về quy mô kinh doanh: cụ thể như DN có sự thu nhỏ hay phát triển mạnh trong quy mô hoạt động. Điều này là biểu hiện của việc DN gặp khó khăn trong hoạt động kinh doanh hoặc tăng trưởng nóng.
DN bị mất đi những KH quan trọng: nếu như những KH quan trọng dần bỏ hợp tác với DN, đó là dấu hiệu cho thấy tình hình hoạt động của doanh nghiệp đang có sự bất ổn và làm mất lòng tin KH, cần phải được xem xét lại. DN mất đi những hợp đồng có giá trị lớn: khi DN để vuột mất những hợp đồng mang giá trị lớn, chắc chắn doanh thu và lợi nhuận của chính doanh nghiệp sẽ giảm, ảnh hưởng trực tiếp đến việc kinh doanh. Bảo mật 9 - Các dấu hiệu liên quan đến công ty Sự phối hợp làm việc giữa các bộ phận chắp vá, đình trệ: khi giữa các bộ phận trong cùng DN không có sự hợp tác cùng với nhau, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp sẽ đi xuống. Thường xuyên thay đổi địa điểm hoạt động kinh doanh: việc DN hay thay đổi địa điểm hoạt động kinh doanh là rất bất thường, thể hiện sự không rõ ràng và dễ xảy ra các hành vi gian lận.
Các vị trí chủ chốt của công ty thường xuyên thay đổi: nhân sự, đặc biệt là nhân sự cấp cao thông thường là ổn định nhất trong công ty. Nếu như công ty mà vị trí cấp cao hay thay đổi, tức là tình hình hoạt động kinh doanh không tốt, môi trường không tốt khiến nhân viên không muốn gắn bó lâu dài. Thường xuyên thực hiện các phương án kinh doanh có độ rủi ro cao: khi DN hay thực hiện các phương án kinh doanh có độ rủi ro cao, thể hiện DN đang quá liều lĩnh với ý định thu được lợi nhuận lớn. Không có những kế hoạch dự phòng ứng biến khi tình hình hoạt động kinh doanh đi xuống: với các DN hoạt động tốt, họ sẽ có kế hoạch dự phòng khi tình hình hoạt động kinh doanh đi xuống hoặc diễn biến thị trường bất ổn.
Khi không có, tức là công ty đang hoạt động không có kế hoạch chiến lược rõ ràng.4 Các nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng tại NHTM Trong quá trình cấp tín dụng tại NHTM, có rất nhiều nguyên nhân có thể xảy ra dẫn đến RRTD. Trong đó, tạm thời chia thành 2 nhóm bao gồm nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan (Trần Huy Hoàng, 2011).1 Nguyên nhân chủ quan Về nhóm nguyên nhân chủ quan, luận văn sẽ phân tích về các yếu tố đến từ NH và các yếu tố đến từ phía KH. * Các yếu tố từ phía KH Bảo mật 10 - Thiện chí của người đi vay: đây là yếu tố hết sức cần thiết trong mối quan hệ tín dụng giữa KH và NH. Khi đi vay, KH phải cung cấp cho NH về các báo cáo tài chính và phương án sản xuất kinh doanh để NH thẩm định, đánh giá và quyết định cho vay.
Nếu như KH gian lận trong các số liệu hay giấy tờ để được cho vay, NH sẽ rất dễ gặp rủi ro khi KH không đủ khả năng trả nợ, bởi NH đã bị sai lầm trong quyết định cho vay. Trên thực tế, hành động này gọi là “làm đẹp” số liệu và sai lệch so với thực tế hoạt động kinh doanh, nên NH cần thận trọng để có nhận định chính xác. - Phương án sản xuất kinh doanh: Khi đi vay, KH phải cung cấp cho NH về phương án sản xuất kinh doanh của mình, làm cơ sở để NH đánh giá và quyết định cho vay. Đối với những phương án sản xuất kinh doanh không có tính khả thi, NH ngay từ ban đầu sẽ không cho vay.
Tuy nhiên, trong quá trình kinh doanh, có thể do nhiều yếu tố như năng lực sản xuất yếu kém, rủi ro bất ngờ xảy ra. dẫn đến việc KH không đủ năng lực tài chính trả nợ, hoặc sử dụng vốn vay không đúng mục đích ban đầu, ảnh hưởng đến việc trả nợ cho NH.