LỜI MỞ ĐẦU Lý do chọn đề tài Với các NHTM, tín dụng là hoạt động kinh doanh quan trọng nhất và là hoạt động đem lại lợi nhuận chủ yếu nhƣng đồng thời cũng chứa đựng nhiều rủi ro nhất. Hậu quả của rủi ro tín dụng, đặc biệt là rủi ro tín dụng đối với đối tƣợng khách hàng doanh nghiệp thƣờng rất nặng nề do quy mô vốn vay lớn: làm tăng thêm chi phí cho ngân hàng, thu nhập lãi bị chậm hoặc mất đi cùng với sự thất thoát vốn vay, làm xấu đi tình hình tài chính cũng nhƣ tổn hại đến uy tín và vị thế của ngân hàng. Khi rủi ro tín dụng không đƣợc quản trị tốt sẽ dẫn đến tỷ lệ nợ xấu cao và ảnh hƣởng trực tiếp đến sự tồn tại, phát triển của mỗi TCTD, nghiêm trọng hơn còn gây tác động xấu đến toàn bộ hệ thống ngân hàng và nền kinh tế. Rủi ro tín dụng luôn song hành với hoạt động tín dụng, không thể loại bỏ hoàn toàn rủi ro tín dụng mà chỉ có thể áp dụng các biện pháp để phòng ngừa hoặc giảm thiểu thiệt hại tối đa khi rủi ro tín dụng xảy ra.
Quản trị rủi ro tín dụng là hoạt động tất yếu giúp các NH tránh khỏi những tổn thất không dự tính trƣớc đƣợc; chống đỡ với những thay đổi bất lợi trong nội bộ và môi trƣờng kinh doanh; tăng lợi thế cạnh tranh và đảm bảo mức lợi nhuận kỳ vọng; đồng thời giúp nhận biết và khai thác đƣợc các cơ hội kinh doanh; là vấn đề khó khăn nhƣng rất bức thiết. Tại MB hiện nay, tín dụng cho khách hàng doanh nghiệp chiếm tỷ trọng lớn, đem lại lợi nhuận cao nhƣng đồng thời cũng tiềm ẩn rủi ro lớn. Với mong muốn tìm hiểu những rủi ro tín dụng, từ đó phân tích những rủi ro có thể xảy ra và kiến nghị những giải pháp nâng cao chất lƣợng quản trị rủi ro tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp, ngƣời viết xin thực hiện nghiên cứu đề tài “Quản trị rủi ro tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần Quân Đội”. Mục tiêu nghiên cứu Đề tài nghiên cứu giải quyết 3 vấn đề cơ bản sau: - Nghiên cứu lý luận về rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp; - Vận dụng cơ sở lý luận để phân tích tình hình quản trị rủi ro tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Quân Đội, đƣa ra những thành tựu 123doc 2 đạt đƣợc và những hạn chế còn tồn tại trong hoạt động quản trị rủi ro tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Quân Đội.
- Đƣa ra những biện pháp nhằm hạn chế những rủi ro có thể phát sinh, kiến nghị các giải pháp nhằm giảm thiểu thiệt hại khi rủi ro xảy ra cho ngân hàng, kiến nghị giải pháp cụ thể để nâng cao chất lƣợng quản trị rủi ro tín dụng. Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu - Đối tƣợng nghiên cứu: Hoạt động quản trị rủi ro tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp. - Phạm vi nghiên cứu: Tín dụng và hoạt động quản trị rủi ro tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Quân Đội giai đoạn 2009 – 2013. Phƣơng pháp nghiên cứu Sử dụng phƣơng pháp nghiên cứu thống kê, so sánh, phân tích… đi từ cơ sở lý thuyết đến thực tiễn nhằm giải quyết và làm sáng tỏ mục đích đặt ra trong đề tài.
Nội dung của đề tài Đề tài đƣợc chia làm 3 chƣơng nghiên cứu: - Chƣơng 1: Tổng quan về quản trị rủi ro tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng thƣơng mại. - Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động quản trị rủi ro tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần Quân Đội. - Chƣơng 3: Giải pháp và kiến nghị nâng cao công tác quản trị rủi ro tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần Quân Đội 123doc 3 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Tổng quan về rủi ro tín dụng 1.
Khái niệm rủi ro tín dụng Rủi ro là một sự không chắc chắn, một tình trạng bất ổn hay sự biến động tiềm ẩn ở kết quả; cùng với sự phát triển của xã hội là sự xuất hiện thêm những rủi ro mới. Ngoài ra, rủi ro còn đƣợc xem nhƣ là sự khác biệt giữa giá trị thực tế và giá trị kỳ vọng. Giá trị kỳ vọng chính là giá trị trung bình có trọng số của một biến nào đó với trọng số chính là xác suất xảy ra giá trị của biến đó. Sự khác biệt giữa giá trị thực tế so với giá trị kỳ vọng đƣợc đo lƣờng bởi độ lệch chuẩn.
Do vậy, độ lệch chuẩn hay phƣơng sai (bình phƣơng độ lệch chuẩn) chính là thƣớc đo của rủi ro. Rủi ro vừa mang tính tích cực, vừa mang tính tiêu cực; rủi ro có thể mang đến cho con ngƣời những tổn thất, mất mát, nguy hiểm, nhƣng cũng có thể mang đến những cơ hội, thời cơ. Nếu tích cực nghiên cứu, nhận dạng, đo lƣờng rủi ro, chúng ta có thể tìm ra đƣợc những biện pháp phòng ngừa, hạn chế những tiêu cực và phát huy đƣợc những cơ hội tích cực mang lại từ rủi ro (Trần Huy Hoàng, 2011). Hoạt động kinh doanh NH bao gồm những hoạt động chính là huy động vốn, cấp TD và cung ứng những dịch vụ khác.
Những hoạt động này tiềm ẩn những rủi ro nhất định nhƣ rủi ro thanh khoản, rủi ro tỷ giá hối đoái, rủi ro lãi suất… Trong khuôn khổ luận văn, tác giả chỉ giới hạn tiềm hiểu về RRTD để từ đó tìm hiểu thực trạng và có những giải pháp nhằm thực hiện tốt hơn việc QT RRTD tại NHTM. RRTD là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp TD của NH, biểu hiện trên thực tế qua việc KH không trả đƣợc nợ hoặc trả nợ vay không đúng hạn cho NH, cho dù đấy là nợ gốc hay nợ lãi. Hiểu một cách khác, RRTD là rủi ro không thu hồi đƣợc nợ khi đến hạn do ngƣời vay đã không thực hiện đúng cam kết vay vốn theo hợp đồng TD, không tuân thủ theo nguyên tắc hoàn trả khi đáo hạn. Nhƣ vậy, theo quan điểm của tác giả, RRTD là sự không chắc chắn về khả năng hoàn trả khoản TD đƣợc cấp của KH khi đến hạn; nói cách khác, đó là sự khác biệt giữa thực tế thu hồi khoản TD đã cấp và giá trị khoản vay của NH khi thực hiện cấp TD cho KH.
Phân loại rủi ro tín dụng 1. Căn cứ theo nguyên nhân phát sinh rủi ro Nếu căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, RRTD đƣợc phân chia nhƣ sau: Hình 1.1: Phân loại rủi ro tín dụng theo nguyên nhân phát sinh Rủi ro tín dụng Rủi ro Rủi ro giao dịch danh mục Rủi ro Rủi ro Rủi ro Rủi ro Rủi ro lựa chọn bảo đảm nghiệp vụ nội tại tập trung (Trần Huy Hoàng, 2011) Theo sơ đồ trên, RRTD đƣợc chia thành hai loại là rủi ro giao dịch (transaction risk) và rủi ro danh mục (portfolio risk): - Rủi ro giao dịch: phát sinh do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cấp TD, đánh giá KH; có 3 bộ phận chính: + Rủi ro lựa chọn: liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích TD, khi NH lựa chọn những phƣơng án cấp TD có hiệu quả để ra quyết định cấp TD. + Rủi ro bảo đảm: phát sinh từ các tiêu chuẩn bảo đảm nhƣ các điều khoản trong hợp đồng cấp TD, các loại TSĐB, chủ thể đảm bảo, cách thức đảm bảo và mức cấp TD trên giá trị của TSĐB. + Rủi ro nghiệp vụ: là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản TD và hoạt động cấp TD, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản TD có vấn đề.
- Rủi ro danh mục: phát sinh do những hạn chế trong quản lý danh mục TD của NH, đƣợc phân chia thành 2 loại: + Rủi ro nội tại (intrinsic risk): xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng có, mang tính riêng biệt bên trong của mỗi chủ thể xin cấp TD hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế, từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của KH xin cấp TD. 123doc 5 + Rủi ro tập trung (concentration risk): là trƣờng hợp NH tập trung cấp TD quá nhiều đối với một số KH, hoặc quá nhiều DN hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế; hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định; hoặc cùng một loại hình cấp TD có rủi ro cao. Căn cứ vào hình thức Căn cứ vào hình thức, RRTD đƣợc chia thành 2 loại: Không thu đúng hạn và không thu đủ nợ gốc và/ hoặc lãi; tuỳ trƣờng hợp mà NH hạch toán vào các khoản mục theo dõi khác nhau nhƣ lãi treo hoặc nợ quá hạn. RRTD tồn tại dƣới nhiều hình thức, các hình thức đó luôn chuyển biến cho nhau, mà mức độ cuối cùng là nợ không có khả năng thu hồi.
Khi nghiên cứu về RRTD thƣờng chú trọng vào các nguy cơ xảy ra rủi ro nhƣ lãi treo và đặc biệt là nợ phát sinh, còn lãi treo đóng băng và nợ quá hạn không có khả năng thu hồi đƣợc coi là các tình hình rủi ro thực sự nên thƣờng đƣợc xem xét giải quyết hậu quả và rút ra bài học. Căn cứ theo đối tượng khách hàng Nếu căn cứ theo đối tƣợng KH, RRTD có thể phân chia thành RRTD đối với KHDN và RRTD đối với KHCN. Rủi ro tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp: Đặc điểm TD đối với KHDN là mặc dù NHTM có số lƣợng KH không nhiều nhƣng quy mô dƣ nợ lớn, khoản TD cấp cho một KHDN có thể lớn hơn rất nhiều lần so với một KHCN với các điều khoản, điều kiện chi tiết và đa dạng, phức tạp; các sản phẩm dịch vụ mỗi KH sử dụng cũng đa dạng hơn nhiều từ cho vay, chiết khấu, bảo lãnh, mua bán ngoại tệ, thanh toán quốc tế…. Đồng thời, khác với khoản TD cho KHCN, các khoản TD cho KHDN là các khoản TD ngắn hạn nhằm mục đích bổ sung bổ sung vốn lƣu động chiếm tỷ trọng lớn, vòng quay TD nhanh, hoạt động của KH thƣờng xuyên đƣợc đánh giá lại mỗi khi NH cấp một khoản TD mới, vì vậy NH theo sát tình hình KH hơn so với KHCN, thông tin về KH đƣợc cập nhật thƣờng xuyên và có độ tin cậy cao hơn KHCN.