Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY HỆ SINH THÁI KHỞI NGHIỆP ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm về khởi nghiệp Khởi nghiệp (Entrepreneurship) là một khái niệm đa chiều, tương đối phức tạp, chưa thống nhất và được dịch và hiểu theo nhiều cách khác nhau như: tinh thần khởi nghiệp, khởi nghiệp, khởi sự kinh doanh… Trong luận văn này sẽ sử dụng thuật ngữ “khởi nghiệp”. Về mặt học thuật, theo Schumpeter (1934), khởi nghiệp là tạo ra các kết hợp mới.
Với Cole (1968), khởi nghiệp là một hoạt động có mục đích để khởi đầu, duy trì và phát triển hoạt động kinh doanh nhằm thu được lợi ích về tài chính hay các lợi ích khác trong kinh doanh mà thế giới đó sẽ tạo ra một sự tự do cho chính người thực hiện hoạt động này. Còn Kirzner Israel (1973), khởi nghiệp là khả năng để phát hiện và khai thác các mối lợi từ sự khác biệt về giá giữa các thị trường. Trong khi Shapero & Sokol (1982) cho rằng, khởi nghiệp là quá trình mà cá nhân sẵn sàng tiên phong trong việc nắm bắt các cơ hội kinh doanh hấp dẫn và khả thi mà họ nhận biết được. Một số nghiên cứu của Bird (1988) và Baron (1998) cho rằng, khởi nghiệp là một quá trình, đó là kết quả của một loạt các sự kiện, hành động có trình tự nhất định và chịu tác động bởi nhiều yếu tố.
Còn theo Shane& Venkataraman (2000), khởi nghiệp là quá trình nhận dạng, đánh giá và khai thác cơ hội kinh doanh. Đây là một định nghĩa theo quá trình, xác nhận việc sáng tạo cải tiến là thể hiện của khởi nghiệp, nhấn mạnh đến người thực hiện (bởi ai?), phương thức thực hiện (bằng cách nào?) các sáng tạo cải tiến và các ảnh hưởng của các sáng tạo cải tiến này. Khởi nghiệp theo hướng nghiên cứu của các học giả trong lĩnh vực kinh tế lao động cho rằng khởi nghiệp là một sự lựa chọn nghề nghiệp của cá nhân giữa 11 Luan van việc đi làm thuê hoặc tự tạo việc làm cho mình. Theo Kolvereid khởi nghiệp nên gắn với thuật ngữ “tự tạo việc làm”.
Như vậy, khởi nghiệp là lựa chọn nghề nghiệp của những người không sợ rủi ro, tự làm chủ công việc kinh doanh của chính mình và thuê người khác làm công cho họ. Làm thuê được hiểu là cá nhân sẽ làm cho một doanh nghiệp hoặc tổ chức do người khác làm chủ, do vậy khởi nghiệp kinh doanh nghĩa là tự làm chủ và thuê người khác làm việc cho mình. Như vậy khái niệm khởi nghiệp theo nghĩa tự tạo việc làm và theo nghĩa tinh thần doanh nhân có sự khác biệt. Theo nghĩa tự tạo việc làm, doanh nhân tự làm chủ chính mình, không đi làm thuê cho ai cả, trong khi theo nghĩa tinh thần doanh nhân, các doanh nhân có thể thành lập doanh nghiệp mới, thuê người quản lý doanh nghiệp cho mình, còn bản thân có thể đi làm thuê cho doanh nghiệp khác.
Từ đó có thể khái niệm: “Khởi nghiệp là tận dụng cơ hội thị trường để bắt đầu một công việc kinh doanh mới, nhằm làm chủ-tự mình điều hành công việc kinh doanh hoặc thuê người quản lý, với mục đích mang lại giá trị cho bản thân cũng như nhiều lợi ích cho xã hội”. Khái niệm về hệ sinh thái khởi nghiệp Phong trào khởi nghiệp ở Việt Nam trong những năm gần đây đã và đang phát triển mạnh mẽ. Cùng với đó là sự hình thành và phát triển của hệ sinh thái khởi nghiệp. Có thể thấy, trên thế giới đã có nhiều khái niệm về hệ sinh thái khởi nghiệp.
Khái niệm hệ sinh thái khởi nghiệp bắt đầu từ James Moore đặt ra trong bài báo trên Tạp chí kinh doanh Harard những năm 1990, trong đó chỉ ra việc tương tác các doanh nghiệp với các nhà cung ứng, khách hàng, các nhà cung cấp dịch vụ tài chính (Moore, 1995). Khái niệm về một hệ sinh thái khởi nghiệp được đề cập đến sự tương tác diễn ra giữa các bên tổ chức liên quan và các cá nhân nhằm thúc đẩy tinh thần kinh doanh, đổi mới và tăng trưởng doanh nghiệp NVV (Isenberg, 2010). Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (Organization for Economic Cooperation and Development-OECD), Hệ sinh thái khởi nghiệp là “tổng hợp các mối liên kết chính thức và phi chính thức giữa: các chủ thể khởi nghiệp (tiềm năng hoặc hiện tại); tổ 12 Luan van chức khởi nghiệp (công ty, nhà đầu tư mạo hiểm, nhà đầu tư thiên thần, hệ thống ngân hàng,.); và các cơ quan liên quan (trường đại học, các cơ quan nhà nước, các quỹ đầu tư công,.) và tiến trình khởi nghiệp (tỉ lệ thành lập doanh nghiệp, số lượng doanh nghiệp có tỉ lệ tăng trưởng tốt, số lượng các nhà khởi nghiệp,.) tác động trực tiếp đến môi trường khởi nghiệp tại địa phương” (Mason,& Brown, 2014). Theo định nghĩa của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (World Economic Forum), hệ sinh thái khởi nghiệp cũng được hiểu là các điều kiện, môi trường trong đó các cánhân, tổ chức, doanh nghiệp và xã hội đến với nhau để thúc đẩy sự thịnh vượng và phồn vinh của nền kinh tế (WEF - 2014).
Hệ sinh thái khởi nghiệp bao gồm các yếu tố sau: (i) Thị trường; (ii) Nguồn nhân lực; (iii) Nguồn vốn và tài chính; (iv) Hệ thống hỗ trợ khởi nghiệp (tư vấn,.); (v) Khung pháp lý và cơ sở hạ tầng; (vi) Giáo dục và đào tạo; (vii) Các trường đại học, học viện; (viii) Văn hóa quốc gia Tóm lại, hệ sinh thái khởi nghiệp (Startup ecosystem) bao gồm các cá nhân, nhóm các nhân khởi nghiệp và các chủ thể hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp phát triển, trong đó có các chính sách và luật pháp của nhà nước (về thành lập doanh nghiệp, thành lập tổ chức đầu tư mạo hiểm, thuế, cơ chế thoái vốn,.); cơ sở hạ tầng dành cho khởi nghiệp (các khu không gian làm việc chung, cơ sở – vật chất phục vụ thí nghiệm, thử nghiệm để xây dựng sản phẩm mẫu,.); vốn và tài chính (các quỹ đầu tư mạo hiểm, nhà đầu tư cá nhân, các ngân hàng, tổ chức đầu tư tài chính,.); văn hóa khởi nghiệp (văn hóa doanh nhân, văn hóa chịu rủi ro, mạo hiểm, văn hóa chấp nhận thất bại); các tổ chức cung cấp dịch vụ hỗ trợ khởi nghiệp, các huấn luyện viên khởi nghiệp và nhà tư vấn khởi nghiệp; các trường đại học; các khóa đào tạo, tập huấn cho cá nhân, nhóm cá nhân khởi nghiệp cũng như cho nhà đầu tư khởi nghiệp; nhân lực cho doanh nghiệp khởi nghiệp và cuối cùng là thị trường trong nước và quốc tế. Hệ sinh thái khởi nghiệp được hiểu ở cấp độ kinh tế xã hội có đặc tính tự tổ chức, khả năng mở rộng và tính bền vững như là sự tương tác giữa các thái độ, khả năng, khát vọng doanh nhân, bởi các cá nhân, dẫn đến việc phân bổ yếu tố thông qua việc tạo ra và vận hành các doanh nghiệp mới” (Trần Quang Tiến, 2020). 13 Luan van Giống như các hệ sinh thái trong môi trường tự nhiên, một đặc điểm của hệ sinh thái khởi nghiệp là sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các thực thể khác nhau trong hệ sinh thái đó. Nói cách khác, các hệ sinh thái không phải là các cá nhân hoặc nhóm các nhân, mà là mối quan hệ giữa họ.
Các thành phần chính của hệ sinh thái khởi nghiệp là các doanh nghiệp khởi nghiệp. Các thành viên khác được coi là một phần của hệ sinh thái, bao gồm: các quỹ và các nhà đầu tư, các vườn ươm, các chương trình tăng tốc khởi nghiệp (accelerator) và các nhà cung cấp dịch vụ khác (cả nhà nước và tư nhân) cũng như các quá trình, các sự kiện và các thực thể khác. Dựa trên các định nghĩa được nêu trong các tài liệu nghiên cứu, trong khuôn khổ nghiên cứu này, hệ sinh thái được hiểu là những tác nhân trong một môi trường cụ thể có quan hệ hữu cơ với nhau nhằm giúp nhau cùng phát triển, hay nói cách khác sự phát triển của tác nhân này sẽ thúc đẩy sự phát triển của các tác nhân khác để hệ sinh thái phát triển bền vững hơn. Khái niệm về Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) DNNVV hay SMEs (Small and Medium Enterprises) là những doanh nghiệp có số lao động hay doanh số ở dưới một mức giới hạn nào đó.
Hiện nay, chưa có một định nghĩa chung về DNNVV. Trên thế giới, tùy thuộc vào loại hình doanh nghiệp, đặc điểm kinh tế - kỹ thuật, trình độ phát triển của vùng lãnh thổ, mặt bằng giá trị sức lao động, trị giá tài sản, thiết bị hay mục đích xếp loại doanh nghiệp trong từng thời kỳ nhất định mà các nước có những tiêu chí khác nhau để xác định DNNVV. Do đó, việc xác định DNNVV này chỉ mang tính chất tương đối. Phần lớn khi xác định DNNVV, các quốc gia đã dựa chủ yếu vào các tiêu chí sau: Số lượng lao động thường xuyên; số lượng vốn góp; doanh thu hàng năm; đặc điểm ngành nghề kinh doanh.
Theo tiêu chí phân loại của Ngân hàng thế giới (World Bank), DNNVV có số lao động dưới 300 người, tài sản dưới 15 triệu đô la, doanh thu hàng năm không quá 15 triệu đô la hoặc có quy mô vay trung bình dưới 1 triệu đô la (dưới $2 triệu đô la đối với một số quốc gia tiên tiến). Ngoài ra, tại mỗi quốc gia có nền kinh khác nhau, theo từng giai đoạn phát triển kinh tế thì quan niệm về DNNVV cũng khác nhau. Chẳng hạn tại các quốc gia 14 Luan van thuộc khối Liên minh Châu Âu, DNNVV là những doanh nghiệp có số lượng nhân viên dưới 250 người và doanh thu hàng năm là nhỏ hơn 50 triệu Euro. Còn tại Châu Mĩ, cụ thể là Hoa Kỳ thì DNNVV là những doanh nghiệp có số lượng người lao động dưới 500 người (cho phần lớn hoạt động sản xuất và khai thác) và có doanh thu hàng năm là dưới 7 triệu đô la đối với đa số các ngành không liên quan tới sản xuất (dao động tới mức tối đa là 35.
Tại Châu Á, các DNNVV tại HongKong được phân loại theo ngành sản xuất và số lượng nhân viên. Theo đó, các DNNVV trong các ngành sản xuất có số nhân viên dưới 100 người và ngành phi sản xuất có số nhân viên dưới 50 người. Bên cạnh đó, từ góc độ là bên cung cấp dịch vụ, các ngân hàng tại HongKong còn đưa ra việc phân loại dựa vào các tiêu chí như doanh thu hàng năm, mức độ tập trung tư bản, năng lực tín dụng. Ở Việt Nam, Căn cứ theo điều 6 tại Nghị định 39/2018/NĐ-CP các tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa như sau: Doanh nghiệp nhỏ và vừa được phân theo quy mô bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa.