Chương 1: Cơ sở khoa học về thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững ở Việt Nam. 7 Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững trên địa bàn tỉnh Cao Bằng. Chương 3: Giải pháp tăng cường thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững thời gian tới trên địa bàn tỉnh Cao Bằng. 8 Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM 1.
Một số khái niệm có liên quan 1. Khái niệm nghèo Theo Liên hợp quốc (UN): “Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội. Nghèo có nghĩa là không có đủ ăn, đủ mặc, không được đi học, không được đi khám bệnh, không có đất đai để trồng trọt hoặc không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng. Nghèo cũng có nghĩa là không an toàn, không có quyền, và bị loại trừ của các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng.
Nghèo có nghĩa là dễ bị bạo hành, phải sống ngoài lề xã hội hoặc trong các điều kiện rủi ro, không được tiếp cận nước sạch và công trình vệ sinh an toàn” [32] Theo Amartya Kumar Sen, nhà Kinh tế học Ấn Độ (đoạt giải Nobel Kinh tế): để tồn tại, con người cần có những nhu cầu vật chất và tinh thần tối thiểu; dưới mức tối thiểu này, con người sẽ bị coi là đang sống trong nghèo nàn. Theo báo cáo về tình hình phát triển Thế giới - Tấn công nghèo năm 2000, Ngân hàng Thế giới (WB) thừa nhận quan điểm truyền thống hiện nay về nghèo: “Nghèo không chỉ bao hàm sự khốn cùng về vật chất được đo lường theo một khái niệm thích hợp về thu nhập và tiêu dùng mà còn là sự hưởng thụ thiếu thốn về y tế”. Báo cáo còn mở rộng đến sự nghèo khi tính đến cả nguy cơ dễ bị tổn thương dễ gặp rủi ro của người nghèo. Báo cáo nêu bật “Nghèo có nghĩa là không có nhà cửa quần áo, ốm đau không có ai chăm sóc, mù chữ và không được đến trường”.
Báo cáo chỉ ra “Người nghèo đặc biệt là dễ bị tổn thương trước những biểu hiện bất lợi nằm ngoài khả năng kiểm soát của họ. Họ thường bị các thể chế của Nhà nước và xã hội đối xử tàn tệ, bị gạt ra rìa và không có tiếng nói quyền lực trong các thể chế đó” [39]. 9 Quan niệm nghèo của Việt Nam là thừa nhận định nghĩa chung về nghèo do Ủy ban Kinh tế xã hội khu vực Châu Á Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tháng 9- 1993 tại Bangkok Thái Lan, các quốc gia trong khu vực đã thống nhất cao và cho rằng: “Nghèo là một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người, mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển KT-XH phong tục tập quán của địa phương” [15]. Nghèo của Việt Nam đang được nghiên cứu là nghèo tuyệt đối, thước đo đói nghèo mà Việt Nam đã áp dụng là cách tiếp cận đơn chiều (gần đây cũng có một số nghiên cứu tiếp cận nghèo đa chiều).
Trên cơ sở các quan niệm về nghèo, tác giả đưa ra khái niệm nghèo như sau: “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không có những điều kiện về cuộc sống như ăn, mặc, ở, vệ sinh, y tế, giáo dục, đi lại, quyền được tham gia vào các quyết định của cộng đồng”. Khái niệm về giảm nghèo bền vững Đối với nghèo, nhất là nghèo tương đối không thể xóa được mà chỉ có thể giảm trong quá trình phát triển. Lý do không thể xóa được nghèo là vì trong quá trình phát triển luôn có một bộ phận dân cư do lý do này, lý do khác mà có mức sống cao hơn một hoặc một nhóm dân cư khác làm cho nhóm dân cư sau luôn luôn ở vị thế thấp hơn hay nghèo hơn. Vì thế không thể xóa nghèo mà chỉ có thể giảm nghèo.
Trên cơ sở khái niệm nghèo, khái niệm giảm nghèo được xác định trong luận văn này là giảm tình trạng dân cư chỉ có thể thoả mãn một phần nhu cầu cơ bản của cuộc sống. Giảm nghèo bền vững là tình trạng đạt được mức độ thỏa mãn những nhu cầu cơ bản, mức sống, mức thu nhập cao hơn mức chuẩn và duy trì được mức thỏa mãn những nhu cầu cơ bản, mức sống, mức thu nhập trên mức chuẩn ngay cả khi gặp phải các cú sốc hay rủi ro; giảm nghèo bền vững có thể được hiểu với nghĩa đơn giản là thoát nghèo bền vững hay không tái nghèo; 10 giảm nghèo bền vững được phản ánh thông qua các tiêu chí chủ yếu như: thỏa mãn nhu cầu cơ bản, cải thiện và duy trì thu nhập, thoát nghèo và không tái nghèo. Giảm nghèo theo hướng bền vững là bộ phận quan trọng của phát triển bền vững. Cho đến nay, chưa có một khái niệm thống nhất nào về giảm nghèo theo hướng bền vững.
Tuy nhiên, nhận thức về giảm nghèo theo hướng bền vững được quan tâm và nhận thức theo nhiều góc độ khác nhau. Trong phạm vi chung, giảm nghèo theo hướng bền vững là hoạt động hỗ trợ đa chiều để người dân có ý chí tự vươn lên tạo được nguồn thu nhập ổn định và đáp ứng những nhu cầu cơ bản của con người. Muốn giảm nghèo bền vững, người dân cần có khát vọng làm giàu và được hướng dẫn cách làm ăn có hiệu quả phù hợp với kinh tế thị trường, có khả năng tham gia vào “sân chơi” của thị trường, đồng thời tạo và duy trì mối quan hệ xã hội, bao gồm cả xã hội, môi trường, bình đẵng giới. Như vậy, khái niệm giảm nghèo bền vững có thể được hiểu là tình trạng đạt được mức thỏa mãn những nhu cầu cơ bản/mức sống/mức thu nhập cao hơn mức chuẩn (nghèo) và duy trì được mức thỏa mãn những nhu cầu cơ bản/mức sống/mức thu nhập trên mức chuẩn đó.
Khái niệm về chính sách giảm nghèo bền vững Trước khi đưa ra khái niệm về chính sách giảm nghèo bền vững, cần hiểu và thống nhất cách hiểu về chính sách. Khái niệm về chính sách ở đây được hiểu là chính sách công. Hiện nay trên thế giới khái niệm chính sách công được hiểu theo nhiều cách khác nhau. Theo Smith (1976) cho rằng “Khái niệm chính sách bao hàm sự lựa chọn có chủ định hành động hoặc không hành động, thay vì những tác động của những lực lượng có quan hệ với nhau”.
Smith nhấn mạnh “Không hành động” cũng như “hành động” và nhắc nhở chúng ta rằng “sự quan tâm sẽ không chỉ tập trung vào các quyết định mà tạo ra sự thay đổi, mà còn phải 11 thận trọng với những quyết định chống lại sự thay đổi và khó quan sát bởi vì chúng không được tuyên bố trong quá trình hoạch định chính sách” [9]. Theo James Anderson (2003) cho rằng “Chính sách là một quá trình hành động có mục đích mà một cá nhân hoặc một nhóm theo đuổi một cách kiên định trong việc giải quyết vấn đề” [14]. Theo Peter Boothroyd (2003) cho rằng “Chính sách là những quyết định, qui định của Nhà nước (tức là các cấp chính quyền từ Trung ương đến địa phương) được cụ thể hoá thành các chương trình, dự án cùng các nguồn lực, vật lực, các thể thức, qui trình hay cơ chế thực hiện nhằm tác động vào đối tượng có liên quan, thay đổi trạng thái của đối tượng theo hướng mà Nhà nước mong muốn” [14]. Như vậy có thể thấy rằng chính sách là một phạm trù của khoa học quản lý, nó đề cập rất rộng các giải pháp ảnh hưởng, tác động của chủ thể đến khách thể của hệ thống quản lý, có phạm vi rộng từ cấp vĩ mô (quốc gia, chính phủ) tới các cấp địa phương như Tỉnh, Huyện, Xã và tới từng đơn vị KT-XH trong một hệ thống KT-XH xác định.
Điểm chung nhất trong khái niệm về chính sách, dù ở cấp độ nào cũng đều phải hiểu rằng chính sách là một trong các công cụ của quản lý. Trong hình thành và vận hành chính sách đều phải có 3 nhóm yếu tố, đó là: Chủ thể, khách thể và mục tiêu của chính sách. Nghiên cứu từ những cách tiếp cận trên về chính sách, có thể hiểu khái niệm chính sách công như sau: chính sách công là kết quả ý chí chính trị của nhà nước được thể hiện bằng một tập hợp các quyết định có liên quan với nhau, bao hàm trong đó định hướng, mục tiêu và cách thức giải quyết những vấn đề công trong xã hội [10] Như vậy, từ cách tiếp cận về nghèo, giảm nghèo bền vững và chính sách công, có thể hiểu khái niệm về chính sách giảm nghèo bền vững ở Việt Nam như sau: Chính sách giảm nghèo bền vững là tập hợp các quyết 12 định của Chính phủ nhằm đưa ra định hướng, mục tiêu và các giải pháp, công cụ để giải quyết các vấn đề về cải thiện đời sống vật chất và tinh thần đối với người nghèo, góp phần thu hẹp khoảng cách chênh lệch về mức sống giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư, thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững của đất nước. Khái niệm thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững Thực hiện chính sách công là một khâu hợp thành chu trình chính sách, nếu thiếu vắng công đoạn này thì chu trình chính sách không thể tồn tại.
Tổ chức thực hiện chính sách công chính là trung tâm kết nối các bước trong chu trình chính sách công thành một hệ thống, nhất là với hoạch định chính sách. So với các khâu khác trong chu trình chính sách, tổ chức thực hiện có vị trí đặc biệt quan trọng, vì đây là bước hiện thực hoá chính sách trong đời sống xã hội. Thực hiện chính sách công là yêu cầu tất yếu khách quan để duy trì sự tồn tại của chính sách với tư cách là công cụ vĩ mô theo yêu cầu quản lý của nhà nước và cũng là để đạt mục tiêu mà chính sách theo đuổi. Như vậy có thể hiểu việc tổ chức thực hiện chính sách là toàn bộ quá trình hoạt động của các chủ thể theo các cách thức khác nhau nhằm hiện thực hóa nội dung chính sách công một cách hiệu quả.
Từ khái niệm về thực hiện chính sách công và giảm nghèo bền vững đã trình bày ở trên, tác giả có thể đưa ra khái niệm thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững: là quá trình tổ chức triển khai thực hiện, nhằm cụ thể hóa các chính sách của Nhà nước về giảm nghèo bền vững vào thực tiễn đời sống xã hội, nhằm đạt được mục tiêu đã xác định.