Chương 1: Giới thiệu: Khái niệm, mục tiêu nghiên cứu đề tài, phạm vi nghiên cứu đề tài, và ý nghĩa việc thực hiện đề tài. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu: khái niệm DNNVV, đặc trưng của DNNVV, tinh thần doanh nghiệp. Chương 3: Thiết kế nghiên cứu: giới thiệu phương pháp nghiên cứu, các bước xử lý dữ liệu và thiết kế thang đo dữ liệu. Chương 4: Phân tích kết quả: Tiến hành phân tích dữ liệu mẫu thu nhận được, phân tích các nhân tố, kiểm tra độ tin cậy của thang đo.
Chương 5: Kết luận, đề xuất: đưa ra nhận xét của nghiên cứu, một số giải pháp kích thích sự sáng tạo, đổi mới của DNNVV và nâng cao năng lực cạnh tranh của DNNVV. Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Nội dung của chương này là xác định những khái niệm, cơ sở lý thuyết của các tác giả đã nghiên cứu trước đây, đồng thời xây dựng mô hình nghiên cứu phù hợp với đặc điểm của DNNVV tại tỉnh Lâm Đồng.1 Doanh nghiệp nhỏ và vừa 2.1 Khái niệm Có rất nhiều định nghĩa về DNNVV khác nhau, tùy theo quan điểm của các Chính phủ ở mỗi nước, nhưng nhìn chung đều dựa vào 3 tiêu chí định lượng, đó là: tiêu chí về số lượng lao động doanh nghiệp được sử dụng, doanh thu của doanh nghiệp và vốn sở hữu của doanh nghiệp. Do số lượng lao động là tiêu chí dễ thống kê nên cộng đồng Châu Âu và các nước thành viên OECD và các nước đang phát triển hay sử dụng 3. Tại Việt Nam, theo qui định tại Điều 3- Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ thì tiêu chí DNNVV dựa theo quy mô tổng nguồn vốn hoặc số lao động bình quân năm.
Theo Nghị định này thì Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên). Trên cơ sở qui định này, UBND tỉnh Lâm Đồng đã ban hành Quyết định số 2366/QĐ-UBND ngày 14/10/2010 về kế hoạch, chương trình trợ giúp DNNVV trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng; theo đó tiêu chí quy mô vốn đăng ký kinh doanh được sử dụng để phân loại là doanh nghiệp nhỏ hoặc doanh nghiệp vừa, cụ thể như sau: 3 OECD (2004), Promoting SMEs for Development, Report of 2nd OECD conference of ministers responsible for SMEs, Istanbul, Turkey.1: Loại hình doanh nghiệp Loại Doanh nghiệp Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa Khối sản xuất và xây dựng Vốn đăng ký từ 01 đến Vốn đăng ký từ 20 đến dưới 20 tỷ đồng 100 tỷ đồng Khối thương mại và dịch Vốn đăng ký từ 01 đến Vốn đăng ký từ 10 đến vụ dưới 10 tỷ đồng 50 tỷ đồng. Trong điều kiện cụ thể của Lâm Đồng thì định nghĩa DNNVV dựa trên tiêu chí về vốn đăng ký kinh doanh là hợp lý (sử dụng tiêu chí về lao động sẽ không phù hợp do đặc thù các doanh nghiệp tại Lâm Đồng chủ yếu về sản xuất nông nghiệp, dịch vụ sử dụng nhiều lao động) và tiêu chí này sẽ được sử dụng để phân tích về DNNVV trong Luận văn này.2 Đặc trưng của DNNVV DNNVV không phải là doanh nghiệp lớn thu lại mà nó có nhiều đặc trưng khác biệt, tập trung ở cấu trúc tổ chức, cách ra quyết định và sử dụng nguồn lực. DNNVV có lợi thế cấu trúc là hệ thống tổ chức gọn nhẹ, quá trình truyền thông nhanh, ra quyết định nhanh chóng, phần đông DNNVV có hệ thống quy trình ra quyết định đơn giản, tạo khả năng nhanh và linh hoạt trước những biến đổi của môi trường bên ngoài.
Tuy nhiên DNNVV cũng có những khuyết điểm cố hữu đó là nguồn lực tài chính hạn hẹp, chủ doanh nghiệp có trình độ thấp, thiếu hệ thống quản trị tài chính, yếu về tiếp thị và xây dựng thị trường, công nghệ lạc hậu… (dẫn theo Nguyễn Thành Long, 2010).2 Nhìn lại những tài liệu có liên quan đến tinh thần doanh nghiệp 2.1 Tinh thần doanh nghiệp Miller (1983) mô tả một công ty kinh doanh là “đối tượng tham gia vào quá trình đổi mới sản phẩm thị trường, thực hiện những dự án kinh doanh có phần rủi ro, và là đối tượng đầu tiên nghĩ ra sự đổi mới tiên phong, giáng vào những đối thủ cạnh tranh những cú chí mạng” (trang 771). Ông dùng những tiêu chuẩn về sự đổi 7 mới, sự tiên phong, và chấp nhận rủi ro để đo lường tinh thần kinh doanh. Ba yếu tố này được kế tục từ hầu hết các nghiên cứu trước đó để định nghĩa tinh thần kinh doanh (Lumpkin & Dess 1996, Covin & Slevin 1989…) Covin & Slevin (1989) gán định nghĩa EO là đặc điểm kinh doanh chiến lược (ESP) của một công ty và đo lường ESP của những công ty sản xuất nhỏ. Tương tự như Miller (1983), họ vẫn công nhận rằng công ty kinh doanh là những công ty sáng tạo, chấp nhận rủi ro và tiên phong.
Họ cũng thừa nhận rằng ESP là một đặc tính quan trọng của những công ty có kết quả hoạt động tốt. Kreiser và các đồng tác giả (2002) làm sáng tỏ những thuộc tính tinh thần của định hướng kinh doanh. Họ cũng ủng hộ mô hình EO với 3 yếu tố gồm đổi mới sáng tạo, tiên phong và chấp nhận rủi ro. Họ khám phá ra rằng 3 yếu tố này có thể biến thiên độc lập với nhau trong những tình huống khác nhau được ghi chép lại bởi Lumpkin & Dess (1996), Tarabishy và đồng nghiệp (2005) và cũng được thừa hưởng từ mô hình nguyên bản phát triển bởi Miller (1983).
Họ cũng tập trung vào sự đổi mới sáng tạo, chấp nhận rủi ro, và sự tiên phong để đánh giá ESP. Họ nghiên cứu về mối quan hệ giữa phong cách lãnh đạo và ESP. Kết quả của nghiên cứu này được thể hiện trong điểm ESP của CEO và có mối tương quan mạnh mẽ với điểm chuyển hóa và bản tóm tắt về sự lãnh đạo (TLP). Lumpkin & Dess (1996) miêu tả EO là một quá trình, một sự rèn luyện và hành động ra quyết định mà kết quả của nó là sự ra đời của một khái niệm mới.
EO có thể được xem là một quy trình kinh doanh mà các nhà quản lý dùng để hành động. Họ phác thảo 5 yếu tố của EO bao gồm tinh thần tự trị, sự đổi mới sáng tạo, chấp nhận rủi ro, tinh thần tiên phong và sự cạnh tranh khốc liệt, những điều này hầu như nằm toàn bộ trong các quy trình kinh doanh. Lee & Peterson (2000) cũng miêu tả EO là một quá trình kinh doanh mà tinh thần kinh doanh được thực hiện trong khía cạnh phương thức, thói quen và quy trình ra quyết định. Họ cho rằng “công ty hoạt động độc lập (tự trị), khuyến khích thử nghiệm (đổi mới sáng tạo), làm những việc có tính rủi ro (chấp nhận rủi ro), đưa 8 vào những sáng kiến (tiên phong) và cạnh tranh khốc liệt trên thị trường là công ty có EO mạnh, những công ty thiếu một hay toàn bộ các yếu tố trên đều có EO yếu.
Như tổng kết trong bảng 2.2, mô hình nguyên mẫu của Miller (1983) đã được sử dụng rộng rãi trong rất nhiều những nghiên cứu về EO và tác động của nó đến các tổ chức. Khi bàn về mối quan hệ giữa các yếu tố, Miller (1983) và Covin & Slevin (1989) sử dụng EO là một cấu trúc một chiều. Họ nhấn mạnh rằng 3 yếu tố này có thể được kết hợp. Mặt khác, Lumpkin & Dess (1996) và Kreiser & đồng nghiệp (2002) tuyên bố rằng những yếu tố của EO có thể biến thiên độc lập với các yếu tố khác.
Nghiên cứu này sử dụng quan điểm của Lumpkin & Dess (1996).2: Các yếu tố của EO Nghiên cứu Yếu tố EO sử dụng Miller (1983) Đổi mới sáng tạo, tiên phong và chấp nhận rủi ro Covin & Slevin (1989) Đổi mới sáng tạo, tiên phong và chấp nhận rủi ro Lumpkin & Dess (1996) Tinh thần tự trị, đổi mới sáng tạo, tiên phong, chấp nhận rủi ro, cạnh tranh Wikilund (1999) Đổi mới sáng tạo, tiên phong và chấp nhận rủi ro Lee & Peterson (2000) Tinh thần tự trị, đổi mới sáng tạo, tiên phong, chấp nhận rủi ro, cạnh tranh Kreiser & đồng nghiệp (2002), Đổi mới sáng tạo, tiên phong và chấp Marino & đồng nghiệp (2002), nhận rủi ro Messeghem (2003), Tarabishy và đồng nghiệp (2005) 9 2.2 EO và hoạt động của tổ chức Kết quả từ nhiều nghiên cứu trước đây đã củng cố thêm quan điểm về mối quan hệ giữa EO và họat động của công ty. Lumpkin & Dess (1996) cho rằng mối quan hệ giữa EO và hoạt động của công ty là một bối cảnh đặc biệt và giới thiệu mô hình thống nhất để tìm hiểu mối quan hệ giữa EO và hoạt động của công ty. Quan điểm này được thể hiện trong Hình 2. Một số tác giả nghiên cứu về mối quan hệ giữa EO, định hướng tiếp thị và hoạt động của công ty, và chỉ ra rằng EO có quan hệ trực tiếp đến sự thay đổi lợi nhuận.
Dess & đồng nghiệp (1997) kiểm tra bản chất của việc tạo chiến lược định hướng kinh doanh và mối quan hệ của nó với chiến lược, môi trường và hoạt động của công ty. Kết quả của nghiên cứu này chỉ ra rằng việc tạo chiến lược kinh doanh có quan hệ chặt chẽ với hoạt động của công ty khi nó kết hợp với chiến lược và môi trường phù hợp. Nhân tố môi trường Sự năng động Sự hào phóng Sự phức tạp Ngành nghề Đặc điểm Định hướng Hoạt động doanh nghiệp Tăng doanh thu Sự tự trị Thị phần Sự đổi mới, sáng tạo Lợi nhuận Chấp nhận thử thách Hoạt động nói chung Tiên phong Sự thoả mãn của đối Sự cạnh tranh khốc tác liệt Nhân tố về tổ chức Kích cỡ Cơ cấu Chiến lược Quy trình tạo chiến lược Nguồn nguyên liệu Văn hóa Đặc điểm của ban lãnh đạo cấp cao Hình 2.1: Khung khái niệm của EO 10 Covin & Slevin (1989) cũng cho rằng EO có mối quan hệ với hoạt động của các công ty nhỏ trong môi trường thù địch. Wikilund (1999) kiểm tra sự bền vững trong mối quan hệ giữa EO và hoạt động của công ty.
Ông phân tích dữ liệu của những công ty nhỏ ở Thụy Điển và tìm thấy một mối quan hệ rõ ràng giữa EO và hoạt động của công ty. Hơn thế nữa, kết quả của nghiên cứu này nhấn mạnh sự phát triển của mối quan hệ này theo thời gian. Một mặt khác, một số nghiên cứu trước đây cũng nhấn mạnh vai trò của văn hóa trong việc tạo ra EO thiết thực.