Chương 1: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về quản lý thuế giá tr gia tăng đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Chương 2: Thực trạng quản lý thuế giá tr gia tăng đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên đ a bàn tỉnh Nghệ An Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quản thuế giá tr gia tăng đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên đ a bàn tỉnh Nghệ An. 7 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH 1.Tổng quan về thuế giá trị at đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh 1.Khái niệm thuế và đặc điểm thuế giá trị gia tăng 1.1 Khái niệm thuế giá trị gia tăng Theo Điều 2, Luật thuế GTGT số 13/2008/QH12: “Thuế giá tr gia tăng là một loại thuế hiện đại, được các nhà kinh tế nghiên cứu từ rất sớm. Trên thế giới, thuế GTGT đã có l ch sử từ lâu đời, lần đầu xuất hiện năm 1917 và qua nhiều quá trình áp dụng, kiểm nghiệm ở nhiều quốc gia trên thế giới.
Do đó, có rất nhiều quan điểm, cách nhìn nhận về thuế GTGT”. Theo quan điểm chung của các quốc gia thì ”thuế GTGT là một loại thuế đánh trên phần giá tr tăng thêm của hàng hóa d ch vụ phát sinh qua mỗi khâu của quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng. Tổng số thuế được tính trên giá bán cuối cùng cho người tiêu dùng. Thuế GTGT do các cơ sở sản xuất kinh doanh hàng hóa d ch vụ nộp hộ người tiêu dùng thông qua việc tính gộp thuế này vào giá bán hàng hóa, d ch vụ mà người tiêu dùng phải trả cho người bán.
Người tiêu dùng là người ch u thuế”. Đặc điểm của thuế giá trị gia tăng Theo Điều 2, Luật thuế GTGT số 13/2008/QH12 đưa ra một số đặc điểm của thuế GTGT như sau: “Thuế GTGT là một loại thuế gián thu đánh vào đối tượng tiêu dùng hàng hóa, d ch vụ ch u thuế, là một yếu tố cấu thành trong giá cả hàng hoá và d ch vụ, là khoản thu được cộng thêm vào giá bán của người cung cấp, hay nói cách khác chính là giá mua hàng hóa, d ch vụ mà người tiêu dùng trả đã bao gồm cả thuế GTGT”. “Thuế GTGT đánh vào GTGT của hàng hóa, d ch vụ phát sinh ở các giai đoạn từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng hàng hóa, d ch vụ đó. Tổng số thuế GTGT thu 8 được ở tất cả các giai đoạn sẽ bằng số thuế GTGT tính trên phần giá bán cho người tiêu dùng cuối cùng”.
Như vậy, về nguyên tắc chỉ cần thu thuế ở khâu bán hàng cuối cùng. Tuy nhiên, trên thực tế khó xác đ nh được đâu là khâu bán hàng cuối cùng, đâu là khâu bán hàng trung gian. Do vậy cứ có hành vi mua hàng là phải tính thuế. Số thuế GTGT ở khâu trước sẽ được tự động chuyển vào giá bán hàng ở khâu sau và người tiêu dùng cuối cùng là người phải trả toàn bộ số thuế GTGT đánh trên hàng hoá đó.
Tổng số thuế người tiêu dùng cuối cùng phải trả bằng tổng số thuế phát sinh qua từng giai đoạn của quá trình sản xuất, kinh doanh hàng hóa d ch vụ. Thuế GTGT là một loại thuế có tính trung lập cao, được biểu hiện ở hai khía cạnh: Thứ nhất, “thuế GTGT không ch u ảnh hưởng bởi kết quả kinh doanh của NNT, do NNT chỉ là người “thay mặt” người tiêu dùng nộp hộ khoản thuế này vào NSNN. Do vậy thuế GTGT không phải là yếu tố của chi phí sản xuất mà chỉ đơn thuần là một khoản thu được cộng thêm vào giá bán của người cung cấp hàng hóa, d ch vụ”. Thứ hai, “thuế GTGT không b ảnh hưởng bởi quá trình tổ chức và phân chia quá trình sản xuất kinh doanh, bởi tổng số thuế ở tất cả các giai đoạn luôn bằng số thuế tính trên giá bán ở giai đoạn cuối cùng bất kể số giai đoạn nhiều hay ít”.
Về phạm vi đánh thuế: Thuế GTGT chỉ đánh vào hoạt động tiêu dùng diễn ra trong phạm vi lãnh thổ, không đánh vào hành vi tiêu dùng ngoài lãnh thổ. Đặc điểm này tạo ra sự công bằng trong nh ng giao d ch quốc tế thông qua việc không thu thuế đối với hàng hóa, d ch vụ xuất khẩu và đánh thuế đối với hàng hóa, d ch vụ nhập khẩu.Doanh nghiệp ngoài quốc doanh và thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh 1. Doanh nghiệp ngoài quốc doanh Theo luật doanh nghiệp (2016) đ nh nghĩa: “Doanh nghiệp NQD có thể hiểu đơn giản là nh ng doanh nghiệp không có vốn đầu tư của nhà nước nhưng các hoạt 9 động sản xuất và kinh doanh phải tuân thủ theo quy đ nh của Pháp luật mà Nhà nước ban hành.Hoạt động của các doanh nghiệp NQD khá rộng lớn, bao gồm các ngành nghề như : sản xuất, d ch vụ, thương mại…. Các hoạt động của doanh nghiệp NQD không chỉ đem lại nguồn ngân sách dồi dào cho Nhà nước mà còn góp phần thúc đẩy sự lưu thông hàng hóa và đóng góp phần lớn vào tổng kinh ngạch xuất khẩu cả nước”.
Mặt khác, các doanh nghiệp NQD còn đóng góp một phần không nhỏ vào việc ổn đ nh và phát triển kinh tế đất nước. Nh ng doanh nghiệp này đã phần nào giúp Nhà nước tháo gỡ được khó khăn về bài toán việc làm cho người lao động khi tạo ra hàng ngàn , hàng triệu công việc làm cho người lao động cả nước. Để có được một đội ngũ doanh nghiệp NQD hùng hậu như vậy chính là nhờ một cơ cấu quản lý linh động và các chi phí gián tiếp được hạn chế tới mức thấp nhất. Khác với doanh nghiệp Nhà nước, các nhân viên trong doanh nghiệp NQD thường đảm nhận các công việc mang tính đa năng với một cơ cấu quản lý đơn giản nhất.
Một doanh nghiệp NQD thường ít nhân viên, chỉ có một người làm chủ và nhân viên không mang tính bền v ng như doanh nghiệp Nhà nước. Tuy nhiên, bên cạnh nh ng điểm mạnh đó thì các doanh nghiệp này cũng gặp không ít khó khăn. Với tính chất vừa và nhỏ, các doanh nghiệp mang thành phần kinh tế ngoài quốc doanh còn hạn chế về mặt tài chính cũng như trình độ công nghệ và tính ổn đ nh trong sản xuất, kinh doanh. Mặc dù gặp không ít khó khăn trong th trường nhưng các thành phần kinh tế quốc doanh với đặc điểm năng động, sáng tạo và có khả năng thích nghi với sự biến đổi của cơ chế th trường vẫn đóng góp một phần quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế đất nước, tạo nên sự cạnh tranh công bằng và góp phần tăng nguồn ngân sách cho Nhà nước.
Doanh nghiệp ngoài quốc doanh xét dưới giác độ sở h u bao gồm tất cả các đơn v hay tổ chức kinh tế thuộc sở h u của một người hay một nhóm người. Quyền sở h u này được xác đ nh dựa trên quá trình huy động hình thành nên nguồn vốn 10 hoạt động cho đơn v kinh tế đó và được pháp luật thừa nhận. Điều này khác cơ bản với các doanh nghiệp quốc doanh, hay doanh nghiệp nhà nước (DNNN), khi mà nguồn vốn hình thành nên các doanh nghiệp nhà nước được ngân sách nhà nước cấp, nghĩa là từ sự đóng góp của toàn dân(nguồn thu từ thuế). Tuy nhiên, Doanh nghiệp ngoài quốc doanh không bao gồm tất cả các doanh nghiệp không thuộc sở h u nhà nước.
Trong nền kinh tế mở, các quốc gia có sự thông thương nhất đ nh, các doanh nghiệp nước ngoài, doanh nghiệp liên doanh được thành lập, nhưng rõ ràng là không nên xếp chúng vào Doanh nghiệp ngoài quốc doanh. – Thứ nhất, vì chúng không có tính đồng nhất về mặt sở h u, một doanh nghiệp liên doanh có thể là sự liên doanh gi a hai công dân thuộc hai nước khác nhau, liên doanh gi a hai tổ chức hay liên doanh gi a hai chính phủ, còn doanh nghiệp nước ngoài thì càng không thể khẳng đ nh nó thuộc sở h u nhà nước hay tư nhân. – Thứ hai, tính chất hoạt động và các ảnh hưởng của doanh nghiệp nước ngoài khác so với các doanh nghiệp trong nước, chúng vận hành theo một bộ luật riêng thường là luật đầu tư nước ngoài và ảnh hưởng lên một số khía cạnh đặc thù trong nền kinh tế như cán cân thanh toán, dự tr ngoại hối, tài trợ xuất nhập khẩu v.v Vì vậy, ở đây chúng ta không xếp các doanh nghiệp nước ngoài như một bộ phận của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh.Thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh Trong nh ng năm gần đây, số lượng DN ngoài quốc doanh tại các tỉnh, thành phố tăng đều qua các năm. Tuy nhiên, do nền kinh tế khó khăn không ổn đ nh, tình hình d ch bệnh ảnh hưởng nhiều đến giá cả th trường, hoạt động sản xuất kinh doanh của DN, vì vậy tiền thuế nộp vào NSNN hàng năm có phần giảm.
Công tác quản lý thuế GTGT đối với DN ngoài quốc doanh mang tính đ nh hướng mục tiêu và tính thống nhất, có trang thiết b phục vụ hỗ trợ người nộp thuế (NNT). Đồng thời, các chi cục thuế đã quản lý và cập nhật được các thông tin về 11 ngành nghề kinh doanh, số lao động sử dụng của các DN để phục vụ cho công tác quản lý thuế GTGT đối với DN ngoài quốc doanh trên đ a bàn. Về tuyên truyền, hỗ trợ NNT: Nh ng năm qua công tác tuyên truyền của các Chi cục thuế tập trung vào việc tuyên truyền k p thời Luật quản lý thuế; nh ng nội dung mới, nh ng nội dung của Luật thuế GTGT và các văn bản hướng dẫn thực hiện., đảm bảo cho NNT thực hiện k p thời, đúng quy đ nh. Công tác hỗ trợ các DN luôn được thực hiện k p thời bằng nhiều hình thức như: tổ chức đường dây nóng của các đội trưởng nghiệp vụ dự toán, kiểm tra… tiếp xúc trực tiếp, hướng dẫn, trả lời, đối thoại, tập huấn, phổ biến chính sách, giải đáp vướng mắc.
của NNT trong quá trình kê khai, nộp thuế một cách nhanh nhất, thuận lợi nhất; công khai các thủ tục hành chính tại bộ phận “Một cửa” của Các chi cục thuế. Công tác tuyên truyền hỗ trợ NNT tại Các chi cục thuế đã được coi trọng và ngày càng được đa dạng hoá về hình thức tuyên truyền và nâng cao chất lượng đã góp phần nâng cao đuợc tính tự giác và tuân thủ pháp luật thuế của NNT.