CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN Liên quan trực tiếp đến chủ đề luận án có hai nội dung chính: Một là, đầu tư trực tiếp nước ngoài; và hai là một số nghiên cứu liên quan bối cảnh mới, nhất là giai đoạn 2020-2022, bao gồm những xu hướng mới của kinh tế và chính trị thế giới, khu vực và trong nước có ảnh hưởng lớn đến FDI ở Việt Nam. Về nội dung FDI, cho đến nay có khá nhiều công trình nghiên cứu. Sự phong phú của các văn liệu về chủ đề này trước hết là do FDI là một hiện tượng kinh tế có tính phổ biến toàn cầu và vai trò của FDI có ý nghĩa quan trọng đối với cả chủ thể đầu tư (trước hết là các công ty xuyên quốc gia) và bên nhận đầu tư. Hơn nữa, không chỉ khối lượng FDI trên toàn cầu ngày càng lớn, mà các nước tham gia đầu tư ra nước ngoài cũng ngày càng tăng.
FDI không chỉ tác động đến tăng trưởng kinh tế, mà còn tác động cả tới khía cạnh thể chế kinh tế, cơ cấu kinh tế, năng suất lao động, các dòng chảy vốn, nhân lực, hàng hóa, chế độ sở hữu, những vấn đề xã hội và môi trường. đối với toàn cầu, khu vực và từng quốc gia. Vì vậy, việc nghiên cứu về chủ đề này có thể kế thừa được rất nhiều nguồn tư liệu sẵn có phong phú. Về nội dung bối cảnh mới, cũng có một số công trình có nhiều nội dung phân tích sâu sắc và gợi mở nhiều vấn đề cần được chú ý, nhất là ở góc độ liên quan tới FDI ở Việt Nam.
Một số công trình nghiên cứu về đầu tư trực tiếp nước ngoài - Về nhận thức, quan niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài: + Các tổ chức quốc tế đã có nhiều công trình nêu lên khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài. Có thể kể đến IMF với “Sổ tay cán cân thanh toán tái bản lần thứ năm” xuất bản năm 1993; OECD với “Benchmark Definition of Foreign Direct Investment” (Tạm dịch: Định nghĩa tiêu chuẩn của FDI) tái bản lần thứ 4 năm 2008; WTO với “Concept paper on the definition of investment” (Tạm dịch: Bài viết về định nghĩa FDI) năm 2002; UNCTAD (2007); Ngân hàng Thế giới WB (2005). + Nghiên cứu của các tác giả Dinkar Nayak và Rahul N. Choudhury (2014) đã điểm lại các lý thuyết về FDI và phân loại các lý thuyết đó thành các nhóm: các 14 lý thuyết FDI dựa vào cạnh tranh hoàn hảo, các lý thuyết về FDI dựa trên thị trường không hoàn hảo, lý thuyết FDI dựa trên sức mạnh của tiền tệ, các lý thuyết FDI liên quan đến thương mại quốc tế, mối liên hệ giữa FDI và hiệp định hội nhập khu vực.
Tuy nhiên các lý thuyết ở trên chủ yếu giải thích dòng đầu tư từ các nền kinh tế/khu vực phát triển sang các nền kinh tế/khu vực khác mà không giải thích hiện tượng đầu tư từ các nước đang phát triển sang các nước khác. Vì vậy nhóm tác giả đề cập đến các lý thuyết FDI giải thích đầu tư từ các nước đang phát triển. + Tại Việt Nam, trước tình trạng khủng hoảng kinh tế những năm 1980, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (12/1986) đã đề ra những chính sách hết sức đúng đắn, đánh dấu bước chuyển biến quan trọng, mở ra công cuộc “đổi mới” toàn diện trên mọi mặt của đời sống xã hội, đặc biệt là trên lĩnh vực kinh tế. Cụ thể hoá đường lối chỉ đạo của Đảng là mở rộng giao lưu quốc tế để thu hút vốn đầu tư nước ngoài nhằm phát triển kinh tế đất nước.
Bộ Luật Đầu tư hoàn chỉnh đầu tiên đã được ban hành tại kỳ họp thứ 2 Quốc hội khoá 8 ngày 31/12/1987. Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 được soạn thảo dựa trên nội dung cơ bản của Điều lệ đầu tư năm 1977, xuất phát từ thực tiễn Việt Nam và tham khảo kinh nghiệm của các nước khác trên thế giới. Sau khi Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt nam ra đời năm 1987, đánh dấu mốc lịch sử hình thành cho đến nay, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt nam đã qua 7 lần sửa đổi trong lĩnh vực FDI trong vòng 33 năm, nay là bản Luật Đầu tư thứ 8 (Luật Đầu tư nước ngoài, số: 61/2020/QH14, ngày 17/6/2020, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2021), quy định về hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam và hoạt động đầu tư kinh doanh từ Việt Nam ra nước ngoài. Các năm 1990; 1992; 1996 và 2000 sửa đổi Luật đầu tư nước ngoài.
Đến năm 2005, Quốc hội ban hành Luật Đầu tư chung, thay thế Luật Đầu tư nước ngoài và Luật Đầu tư trong nước. Sau đó ban hành Luật Đầu tư 2014 và nay là Luật Đầu tư 2020. Tinh thần cơ bản của Luật Đầu tư 2020 là nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả thu hút nguồn lực đầu tư trong nước và nước ngoài, bằng các quy định về cải cách thủ tục hành chính, bãi bỏ nhiều ngành/nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, bổ sung nhiều ngành/nghề được ưu đãi đầu tư; quy định rõ hơn về ưu đãi và hỗ trợ đầu tư đặc biệt. Nghiên cứu toàn bộ lịch sử của sự hình thành và phát triển của pháp Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 15 cho thấy, từ năm 1987 cho đến nay, Luật Đầu tư nước ngoài đã luôn được hoàn thiện, tạo dựng một khung pháp lý cơ bản điều chỉnh hoạt động đầu tư nước ngoài, trên cơ sở quán triệt quan điểm mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng, phù hợp với thực tiễn và thông lệ quốc tế.
Những đóng góp của đầu tư nước ngoài vào việc thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội của đất nước là một minh chứng khẳng định vai trò tích cực của pháp luật đầu tư nước ngoài. - Về nhân tố ảnh hưởng và vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài: + Ourvashi Bissoon (2011) phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến thu hút FDI thông qua mô hình định lượng. Kết quả cho thấy mức độ của dòng vốn FDI có quan hệ dương với GDP thực tế, độ mở nền kinh tế, mức độ phổ cập thông tin, tỉ lệ nhập học trung học, sự ổn định chính trị, hiệu quả chính phủ và kiểm soát tham nhũng. Dòng vào FDI có quan hệ âm với chi tiêu chính phủ, tỉ lệ lạm phát, tỉ giá hối đoái.
Cụ thể hơn, kết quả cho thấy sự ổn định kinh tế vĩ mô trong điều kiện tỷ giá ít biến động, lạm phát thấp, các tổ chức hiệu quả và ít tham nhũng, khuôn khổ pháp lý tốt và nền chính trị ổn định sẽ có tác động tích cực đối với dòng vốn FDI. Nhóm tác giả Raeskyesa, Dewa Gede Sidan, Suryandaru và Reinardus Adhiputra (2020) tìm ra mối liên hệ chặt chẽ giữa năng lực cạnh tranh quốc gia và FDI, trong đó các yếu tố thể chế, quy mô kinh tế, y tế và cung cấp giáo dục cơ bản có ý nghĩa nhất đối với thu hút FDI. + Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) (2013) với ấn phẩm “Foreign Direct Investment as a Key Driver for Trade, Growth and Prosperity: The Case for a Multilateral Agreement on Investment” (Tạm dịch: FDI như một động lực chính cho thương mại, tăng trưởng và thịnh vượng: Trường hợp cho một Hiệp định đa phương về đầu tư) tập hợp nhiều bài viết về FDI với những quan điểm, khía cạnh khác nhau, bao gồm khía cạnh FDI và chuỗi giá trị toàn cầu; mặt trái của FDI khiến cho các quốc gia muốn hạn chế; vấn đề quản trị FDI. + Luận án Tiến sĩ của NCS Cao Thị Hồng Vinh (2017), đặt FDI trong tương quan với phát triển bền vững, xem xét các tiêu chí đánh giá và các kênh dẫn hoạt động FDI tới các trụ cột của phát triển bền vững: kinh tế, xã hội, môi trường trong 16 thời gian qua và hướng giải pháp cho tương lai.
Hoàng Mạnh Hùng (2018) phân tích mối quan hệ nhân - quả giữa FDI, tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Việt Nam giai đoạn 1998-2015. Tác giả dụng mô hình định lượng PVAR để kiểm tra mối quan hệ nhân - quả Granger và chỉ ra rằng, có một mối quan hệ nhân - quả hai chiều giữa FDI và tăng trưởng kinh tế, nhưng chỉ có một chiều với chuyển dịch cơ cấu kinh tế. - Về đánh giá thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài: + Ngày nay, trong số rất nhiều các công trình nghiên cứu về FDI, có lẽ nổi bật hơn cả là loạt Báo cáo đầu tư thế giới (WIR) xuất bản hàng năm của Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và phát triển (UNCTAD). Kể từ khi báo cáo đầu tiên được phát hành năm 1991 đến nay (2022), UNCTAD đã xuất bản hơn 30 ấn phẩm.
Có thể nói, WIR là một trong những ấn phẩm hàng đầu về các xu hướng và sự phát triển toàn cầu liên quan đến FDI và các tập đoàn xuyên quốc gia (TNCs) tham gia đầu tư trực tiếp ra nước ngoài. Về cơ bản, mỗi bản Báo cáo bên cạnh chủ đề riêng của từng năm, đều chuyển tải những thông tin rất có giá trị về: (1) Các xu hướng FDI trong năm trước, đặc biệt chú trọng đến các tác động phát triển; (2) Xếp hạng các tập đoàn xuyên quốc gia lớn nhất trên thế giới; (3) Các khuyến nghị chính sách; (4) Dữ liệu về dòng vốn FDI ở cấp quốc gia trên toàn thế giới. Báo cáo WIR có thể chia thành ba giai đoạn, giai đoạn 10 năm đầu (1991-2000), các báo cáo tập trung chủ yếu vào chủ đề vai trò, cách thức vận hành, hình thức đầu tư. của hệ thống các TNCs với hơn 37.000 tập đoàn xuyên quốc gia trên thế giới và hơn 170.000 chi nhánh nước ngoài, như là động cơ của tăng trưởng quốc tế, đặc biệt là bộ ba: Hoa Kỳ, EC và Nhật Bản, nơi mà trong thập kỷ 1980 chiếm đến 4/5 tổng vốn FDI vào phần còn lại của thế giới.
Giai đoạn 10 năm thứ hai (2001-2010), các báo cáo tập trung chủ yếu vào chủ đề đa dạng hóa các lĩnh vực đầu tư FDI: Thúc đẩy liên kết (Báo cáo năm 2001); nâng cao năng lực cạnh tranh trong bối cảnh toàn cầu hóa (2003); FDI trong các lĩnh vực dịch vụ (2004); nghiên cứu và phát triển – R&D (2005); các ngành công nghiệp khai thác (2007); các lĩnh vực kết cấu hạ tầng như đường xá, bến cảng, cấp nước, khí đốt, điện và viễn thông (2008); phát triển nông 17 nghiệp (2009) và Báo cáo năm 2010 với chủ đề đầu tư vào nền kinh tế các-bon thấp.