Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ ĐẦU TƯ, ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI Ở MỘT QUỐC GIA 1. Các công trình nghiên cứu về bản chất, vai trò của đầu tư nước ngoài ở một quốc gia Các công trình nghiên cứu về đầu tư, đầu tư nước ngoài trực tiếp làm rõ một số vấn đề tổng quát về khái niệm đầu tư nước ngoài, mục đích, vai trò, tác động của đầu tư nước ngoài đối với cả nước nhận đầu tư và đi đầu tư. Trước hết, quan niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài, theo OECD.
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là nhân tố quan trọng của phát triển kinh tế tại tất cả các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển. Với khung chính sách phù hợp, FDI có thể mang lại sự ổn định tài chính, thúc đẩy phát triển kinh tế và củng cố sự thịnh vượng của xã hội [66]. UNCTAD nhấn mạnh đến khía cạnh vốn đầu tư ở nước ngoài của FDI, FDI là một hoạt động đầu tư mang tính dài hạn nhằm thu về những lợi ích và sự kiểm soát lâu dài bởi một thực thể của một đất nước trong một doanh nghiệp ở một nước khác. Eisner & Strotz (1963), “Determinants of Business Fixed Investment” [62], lý giải động cơ của hoạt động đầu tư.
Theo đó những yếu tố căn bản nhất ảnh hưởng 4 đến động cơ đầu tư, bao gồm (1) Mức lãi suất của vốn vay: lãi suất càng cao động lực đầu tư càng thấp; (2) Tốc độ khấu hao của tư bản: tốc độ khấu hao càng cao, động lực đầu tư càng thấp; (3) tốc độ thay đổi giá của tư bản: tốc độ tăng giá của tư bản cao khiến động lực đầu tư tăng; (4) mức thuế: theo đó mức thuế càng cao động lực đầu tư càng giảm. Về vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài, tương quan giữa đầu tư, tăng trưởng và các chỉ số kinh tế vĩ mô khác, một số lập luận cho rằng vốn FDI lớn 8 hơn vốn đầu tư trong nước (DI) và có tác động tiêu cực đến tăng trưởng. Nghiên cứu của Huang (2003), Braunstein và Epstein (2002) cho thấy FDI có thể thay thế vốn DI trong dài hạn. Theo nghiên cứu của Acar và cộng sự.
(2012) tại 13 quốc gia Trung Đông và Bắc Phi (M NA) trong giai đoạn 1980 - 2008, FDI thực lớn hơn DI. Theo Muhammad et al. (2013), FDI có tác động đến GDP, nhưng tác động này thấp hơn tác động của xuất khẩu trên GDP. Edmund Malesky (2007), “Provincial Governance and Foreign Direct Investment in Vietnam (Quản trị tỉnh và FDI ở Việt Nam)” [59], phân tích FDI có mối tương quan với quản trị kinh tế, tập trung vào các biến số kết quả khác liên quan đến FDI, cụ thể là quản trị kinh tế.
Lý do là hầu hết các phân tích FDI phản ánh một quá trình lâu dài và năng động. Việc minh bạch thông tin quản lý và các dịch vụ phát triển khu vực tư nhân, như các hội chợ thương mại và đào tạo công nghệ, có liên quan chặt chẽ đến thu hút đầu tư. Song, giá thực hiện bị ảnh hưởng mạnh nhất bởi việc tiếp cận và bảo đảm quyền sở hữu cũng như khả năng bảo vệ các quyền lợi tại tòa án. Do đó, cải cách hệ thống pháp lý vô cùng quan trọng để đảm bảo các cam kết lâu dài của doanh nghiệp FDI tại Việt Nam.
Điều này quan trọng đối với các nhà hoạch định chính sách Việt Nam. Cùng tiếp cận về vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài, tác giả Trần Xuân Tùng [32], qua nghiên cứu trường hợp của Việt Nam đã khẳng định đầu tư trực tiếp nước ngoài có vai trò quan trọng đối với quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Trên cơ sở phân tích xu hướng vận động của dòng vốn đầu tư, những nhân tố ảnh hưởng tác giả kiến nghị giải pháp nhằm huy động và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn FDI vào Việt Nam. Các công trình nghiên cứu về tác động, nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư nước ngoài ở một quốc gia Theo tác giả Nguyễn Mai Hương [75], đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã được nhìn nhận như là một trọng những “trụ cột” tăng trưởng kinh tế 9 của Việt Nam, vai trò của FDI đối với tăng trưởng như bổ sung nguồn vốn đầu tư, thúc đẩy xuất khẩu, chuyển giao công nghệ, phát triển nguồn nhân lực và tạo việc làm của Việt Nam.
FDI không chỉ có tác động tích cực, mà nó còn có tác động ngược chiều đối với nền kinh tế, đó là: bất hợp lý về cơ cấu đầu tư, việc góp vốn bằng công nghệ nhưng không hoàn toàn là công nghệ hiện đại, tác động xấu đến môi trường, hoặc xung đột lợi ích giữa nhà đầu tư và người lao động. Vì thế cần tìm ra giải pháp phù hợp nhằm khắc phục những hạn chế mà FDI mang lại. Về các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư và thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, nhiều kết quả nghiên cứu phân tích mối tương quan giữa các nhân tố đến đầu tư nước ngoài, chẳng hạn vai trò của hạ tầng, nguồn nhân lực, vị trí địa lý, thể chế hay các chi phí khác… Nghiên cứu của Demirhan và Masca (2008) tại 38 nước đang phát triển từ năm 2000 đến năm 2004 cho thấy các yếu tố như: quy mô thị trường (được đo bằng GDP), cơ sở hạ tầng (được thể hiện bằng số lượng đường dây điện thoại) và độ mở thương mại có ảnh hưởng tích cực đến FDI vào các quốc gia này, lạm phát và thuế càng thấp thì FDI càng tăng. Azam (2010) cho rằng quy mô thị trường và hỗ trợ phát triển chính thức có tác động tích cực đến vốn FDI và lạm phát có tác động tiêu cực tác động đến FDI.
Nguyễn Kim Phước (2015), Lý do Đồng bằng sông Cửu Long không thu hút được vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, Tạp chí Khoa học Trường Đại học Mở TP Hồ Chí Minh [25] Từ nhân tố thể chế, tác giả Bùi Kiều Anh - Lê Minh Sơn nghiên cứu mối liên hệ giữa chất lượng thể chế và đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ở Việt Nam bằng cách sử dụng phân tích dữ liệu bảng cân đối gồm 39 tỉnh ở Việt Nam trong giai đoạn 2011 - 2018 tác giả khẳng định, ngay cả ở cấp tỉnh, hiệu quả thể chế tốt có tác động tích cực đến dòng vốn FDI, song tác động của từng loại thể chế là khác nhau. Qua phân tích, 7 trong số 11 chỉ số chất lượng thể chế PCI có liên quan đến FDI: PCI tổng hợp, tiếp cận đất đai và bảo đảm 10 quyền sở hữu, tính minh bạch và tiếp cận thông tin, chi phí thời gian và tuân thủ quy định, tính chủ động của lãnh đạo tỉnh, các dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp và các tổ chức pháp lý [34]. Như vậy, năng lực cạnh tranh về quản trị tổng thể của một tỉnh, cách thức chính quyền địa phương cho phép tiếp cận thông tin minh bạch và sức mạnh của các thể chế pháp lý có ý nghĩa quan trọng nhất đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong việc lựa chọn địa điểm đầu tư trong phạm vi quốc gia. Tuy nhiên, trên thực tế quyết định đầu tư còn được xác định dựa trên nhiều yếu tố, ngoài yếu tố thể chế thì tốc độ phát triển kinh tế cũng như hạ tầng kinh tế - xã hội cũng như các chi phí khác chưa được phân tích trong kết quả nghiên cứu này.
Thông qua phương pháp hồi qui GMM sai phân dữ liệu bảng Arellano - Bond và phương pháp ước lượng PMG [6], tác giả phân tích tác động của quy mô thị trường, lao động, thâm hụt ngân sách, cơ sở hạ tầng, độ mở thương mại và lạm phát lên FDI ở 11 quốc gia Châu Á giai đoạn 1990 - 2011. Kết quả nghiên cứu đã phát hiện ngoại trừ thâm hụt ngân sách tác động có ý nghĩa âm lên FDI trong trường hợp ước lượng PMG, thì quy mô thị trường, lao động và độ mở thương mại là những nhân tố quyết định của FDI. Trái lại, Vijayakumar et al. (2010) [76] khẳng định, nhân tố độ mở thương mại không đóng vai trò quyết định đến dòng vốn FDI.
Qua sử dụng dữ liệu bảng trong giai đoạn 1975 - 2007 để nghiên cứu các nhân tố quyết định dòng vốn FDI của các nước BRICS (Brasil, Nga, Ấn độ, Trung Quốc và Nam Phi, tác giả cho rằng, các nhân tố quy mô thị trường, chi phí lao động, cơ sở hạ tầng, giá trị đồng nội tệ và tổng vốn đầu tư là những nhân tố quyết định có ý nghĩa của các dòng vốn FDI ở các nước BRICS trong khi ổn định kinh tế, ngược lại triển vọng tăng trưởng và độ mở thương mại không có tác động ý nghĩa. Bằng phương pháp hồi quy với dữ liệu chéo, phân tích năng lực hấp thụ vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại các tỉnh, thành phố trực thuộc 11 Trung ương ở Việt Nam từ năm 2010 đến 2019. Qua phân tích mối tương quan giữa lượng vốn FDI với tốc độ tăng trưởng kinh tế, chất lượng nguồn nhân lực, cơ sở hạ tầng. FDI sẽ tăng khi các nhân tố này tăng, tuy nhiên, chất lượng nguồn nhân lực cần trở thành ưu tiên chính sách hàng đầu để thu hút vốn FDI chất lượng tại các địa phương.
Nghiên cứu trường hợp cụ thể của Việt Nam, Hoàng Chí Cương và cộng tác viên (2013) về tác động của tự do hóa thương mại trong bối cảnh gia nhập WTO và các hiệp định FTA khác nhau lên dòng FDI. Bằng cách sử dụng dữ liệu bảng trong giai đoạn 1995 - 2011 và mô hình lực hấp dẫn dựa trên phương pháp ước lượng Hausman - Taylor (1981), phát hiện cho thấy tự do hóa thương mại sau khi gia nhập WTO có tác động rất lớn lên các dòng FDI đổ vào Việt Nam, phù hợp với các tiên liệu trước đó. Nguyễn Ngọc Anh và Nguyễn Thắng (2007) nghiên cứu các nhân tố quyết định dòng vốn FDI ở các tỉnh thành của Việt Nam. Bằng cách sử dụng dữ liệu của 64 tỉnh thành trong giai đoạn 1988 - 2006 và phương pháp hồi qui OLS, các phát hiện cho thấy quy mô thị trường, lao động và cơ sở hạ tầng có tác động ý nghĩa lên FDI trong khi chính sách của chính phủ thông qua chỉ số cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) không có ý nghĩa.
Ngoài ra, nghiên cứu cũng chỉ ra các nhà đầu tư đến từ các quốc gia khác nhau dường như có hành vi khác nhau trong việc lựa chọn vị trí đầu tư.