Chương 1 NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN CHUNG VE CO PHAN HÓA DOANH NGHIEP NHA NUOC THUOC BO QUOC PHONG DO QUAN CHUNG HAI QUAN TRUC TIEP QUAN LY 1. Khai quat về cỗ phần hóa doanh nghiệp nhà nước 1. Quan điểm về cỗ phan hóa doanh nghiệp nhà nước và qua trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam Cé phan hóa (equityzation) là cách gọi tat của việc chuyển đổi các DNNN mà Nhà nước không cần nắm giữ 100% vốn thành công ty cổ phần có nhiều chủ sở hữu ở Việt Nam. Việc chuyển đổi này nhằm mục đích để huy động vốn của các nhà dau tư trong và ngoài nước, nâng cao năng lực tai chính, đổi mới công nghệ, đổi mới phương thức quản lý và nâng cao hiệu quả, sức mạnh cạnh tranh cho nền kinh té.
Việc đôi mới và phát triển DNNN dé thích ứng với các đòi hỏi của nền kinh tế thị trường là một yêu cầu đặt ra đối với các quốc gia đang phát trién. Và một trong những giải pháp quan trọng để thúc đây chuyển đổi sở hữu DNNN đó chính CPH DNNN CPH DNNN có thé nhìn nhận dưới các khía cạnh sau: Xét về mặt sở hữu, CPH là quá trình chuyển đổi sở hữu DNNN, chuyên DN thuộc quyền sở hữu của Nhà nước thành DN có nhiều chủ sở hữu với mục dich bao đảm sự tồn tại và phát triển không ngừng của DN theo sự phát triển của kinh tế - xã hội (Điều 1 Nghị định 59/2011/NĐ-CP ngày 18/7/2011). Xét về bản chất kinh tế, CPH là việc nhà nước hoặc giữ nguyên phần vốn hiện có trong DN nhưng phát hành cô phiếu để thu hút thêm vốn, hoặc bán bớt một phan hay toàn bộ giá trị cô phần của mình trong DN cho các đối tượng là tô chức hoặc cá nhân trong va ngoài nước hoặc cho cán bộ quản lý, cán bộ công nhân viên của DN bằng đấu giá công khai hay thông qua thị trường chứng khoán (Điều 4 Nghị định 59/2011/NĐ-CP ngày 18/7/2011). Xét về mặt pháp lý, CPH là việc chuyên đổi DNNN sang hoạt động theo mô hình CTCP hoạt động theo các quy định về CTCP của pháp luật hiện hành.
CPH DNNN là quá trình thực hiện đa dạng hóa sở hữu, chuyền các DNNN thuộc sở hữu nhà nước thành CTCP thuộc sở hữu của các cổ đông thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia mua cô phiếu. Các chủ sở hữu có quyền lợi và nghĩa vụ của mình tương đương với phần vốn góp đó, được hưởng lợi nhuận, chức vụ và địa vị trong DN tương đương với tài sản mà minh bỏ ra dé đóng góp vào DN. Xét về khía cạnh chính trị CPH DNNN không nhằm mục tiêu tư nhân hóa nền kinh tế, không nhằm xóa bỏ hoàn toàn sở hữu nhà nước trong các cơ sở kinh tế công mà chỉ giảm mức độ sở hữu, mà cụ thể hơn là tùy từng DN mà Nhà nước nắm giữ tỷ lệ phần vốn góp nhất định. Quá trình CPH đưa tư nhân vào cùng làm chủ sở hữu, trong đó có cả người lao động từng làm trong DN, có thé có cá nhân, tổ chức là người nước ngoài.
Day chính là đồng chủ sở hữu cùng có tiếng nói quyết định đến sự phát triển của DN, đưa nền kinh tế của đất nước dần dần phát triển và hội nhập quốc tế theo đúng định hướng tiễn lên xã hội chủ nghĩa. Xét về mặt kinh tế - xã hội, CPH góp phần nâng cao sự minh bạch trong quan tri và diéu hanh DN, tao ra co ché thuc hién su công bằng đối với các nhà đầu tư, người lao động. CPH DNNN, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý xã hội đối với các lĩnh vực mà trước đây nhà nước (độc quyền) quản lý thông qua việc chuyên giao vốn, “thoát vốn” nhà nước tại các DNNN sau CPH. Như vậy có thé thấy, cổ phan hóa doanh nghiệp nhà nước là quá trình chuyển doanh nghiệp nhà nước từ hình thức sở hữu độc nhất của Nhà nước sang hình thức sở hữu đa thành phân thông qua việc thu hút thêm vốn từ các 10 thành phan kinh tế khác nhau hoặc ban toàn bộ hay một phan tài sản của doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước dé thành lập công ty cổ phan 1.
Đặc điểm của cỗ phan hóa Từ khái niệm trên đây, ta có thê rút ra được một số đặc điểm của CPH DNNN: Thứ nhất, cổ phân hóa là biện pháp chuyển DN từ sở hữu nhà nước Sang hình thức nhiều sở hữu hay còn gọi là đa sở hữu. Doanh nghiệp được CPH sẽ không chỉ có một chủ sở hữu độc quyền quyết định mọi vấn đề về đầu tư, kinh doanh mà sẽ có các chủ sở hữu khác — được gọi là các cô đông cùng đóng góp vốn và đều có quyền tham gia vào quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Quyền và lợi ích của doanh nghiệp không chỉ là của một chủ sở hữu mà là của nhiều chủ sở hữu tham gia góp vốn đầu tư vào doanh nghiệp. Thứ hai, cô phan hóa là quá trình chuyển đổi hình thức pháp lý từ doanh nghiệp 100% vốn nhà nước sang công ty cổ phan.
Đây là hình thức chuyển đổi loại hình doanh nghiệp, liên quan đến nguồn luật điều chỉnh doanh nghiệp. Sau khi chuyển đổi, doanh nghiệp sẽ chịu sự điều chỉnh của Luật Doanh nghiệp và các văn bản hướng dan thi hành theo hình thức công ty cỗ phần chứ không nằm trong sự điều chỉnh của Luật Doanh nghiệp nhà nước. Thứ ba, quá trình cổ phan hóa được tiến hành thông qua hình thức nhà nước bản một phần hoặc toàn bộ vốn nhà nước hiện có tại DN cho các cá nhân, tổ chức khác nhau như: Người lao động trong doanh nghiệp, nhà đầu tư chiến lược, bán công khai ra công chúng. Thông qua việc bán cô phần của DN ra công chúng, DNNN sau khi CPH có thé thu hút sự tham gia mua cổ phan của những người có trình độ và kinh nghiệm về kỹ thuật; tài chính, quản lý và thương mại.
Họ là những nhà quản lý giỏi, có tỉnh thần trách nhiệm cao và hoạt động thực sự vì lợi ích của DN. Quá trình CPH DNNN đã góp phần khắc phục những hạn chế, yếu kém 11 trong quá trình kinh doanh của các DNNN, đáp ứng những yêu cầu về cải cách, đôi mới khu vực kinh tế nhà nước dé phù hợp với yêu cầu phát triển của nên kinh tế nước ta. Xét về mặt bản chất kinh tế thì CPH DNNN là việc (i) nhà nước giữ nguyên vốn hiện có tại doanh nghiệp và phát hành thêm cổ phiếu đề tăng vốn điều lệ hoặc (ii) bán một phần hoặc toàn bộ vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp cho các đối tượng là tổ chức hoặc cá nhân trong và ngoài nước hoặc cho CB-CNV-NLĐ của doanh nghiệp bằng hình thức đấu giá công khai hay thông qua thị trường chứng khoán. Điều 5 Nghị định 126/2017/NĐ-CP quy định chỉ tiết về chuyển doanh nghiệp nhà nước và công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do doanh nghiệp nhà nước đầu tư 100% vốn điều lệ thành công ty cô phần, quy định việc cô phần hóa DNNN nhà nước có các hình thức như sau: (1) Giữ nguyên vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp, phát hành thêm cô phiếu dé tăng vốn điều lệ; (2) Bán một phần vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp hoặc kết hợp vừa bán bớt một phan vốn nhà nước vừa phát hành thêm cổ phiếu dé tăng vốn điều lệ: (3) Bán toàn bộ vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp hoặc kết hợp vừa bán toàn bộ vốn nhà nước vừa phát hành thêm cô phiếu dé tăng vốn điều lệ.
Các hình thức này cung không có nhiều thay đổi so với Nghị định 59/2011/NĐ-CP quy định về việc chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cô phan. Xét về mặt sở hữu, CPH là quá trình chuyển doanh nghiệp 100% sở hữu nhà nước thành doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu với mục đích bảo đảm sự tồn tại và phát triển không ngừng của doanh nghiệp theo sự phát triển chung của kinh tế - xã hội. Sự thay đổi này không chi là sự thay đổi về tên gọi mà còn là sự thay đôi căn bản trên các mặt như sau: 12 Thứ nhất, chuyển hóa quyền sở hữu (từ đơn sở sang đa sở hữu). Từ đó dẫn đến việc thay đổi các quyền quản lý điều hành doanh nghiệp, tạo nên sự găn kết chặt chẽ giữa các quyền liên quan đến vốn và tài sản của doanh nghiệp.
Đây cũng là điều kiện thiết yếu dé đảm bảo quyền làm chủ thực sự của những người cô đông tham gia góp vốn, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Thứ hai, sự thay đôi căn bản về tô chức, với cơ cau tô chức chặt chẽ gồm DHDCD, HĐQT, BKS, Ban điều hành đã có sự phân công, phân cấp và giám sát lẫn nhau, đảm bảo hiệu quả trong quản lý, sử dụng vốn doanh nghiệp cũng như sự phát triển bền vững của doanh nghiệp. Thứ ba, thay d6i căn bản về quản lý giữa nhà nước và doanh nghiệp. Từ chỗ DNNN bi chi phối toàn diện sang quyền tự chủ kinh doanh được mở rộng và tính chịu trách nhiệm được dé cao.
Điều 1 Nghị định 59/2011/NĐ-CP (hết hiệu lực ngày 01/01/2018) có đề cập đến mục tiêu, yêu cầu của việc chuyên doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cô phan, cụ thé: (1) Chuyển đổi những doanh nghiệp mà Nhà nước không cần giữ 100% vốn sang loại hình doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu; huy động vốn của các nhà dau tư trong nước và nước ngoai dé nâng cao năng lực tài chính, đổi mới công nghệ, đổi mới phương thức quản lý nhằm nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế: (2) Bảo đảm hài hòa lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp, nhà đầu tư và người lao động trong doanh nghiệp; (3) Thực hiện công khai, minh bạch theo nguyên tắc thị trường: khắc phục tình trạng cô phần hóa khép kín trong nội bộ doanh nghiệp; gắn với phát triển thị trường vốn, thị trường chứng khoán. Xét về mặt pháp lý thì CPH là việc chuyển đổi mô hình hoạt động DNNN sang mô hình CTCP. Cổ phần hóa DNNN là quá trình thực hiện đa dạng hóa chủ sở hữu, chuyển sở hữu 100% nhà nước sang Công ty cô phan thuộc sở hữu của các cô đông trong đó bao gôm cả nhà nước. Vai trò cổ phan hóa Doanh nghiệp nhà nước là một bộ phận trong thành phan kinh tế nhà nước.
Việc sắp xếp, đổi mới, CPH DNNN là nhằm trực tiếp nâng cao hiệu quả của DNNN, đảm bảo DNNN làm tốt nhiệm vụ nòng cốt, phát huy vai trò chủ đạo của nền kinh tế nhà nước, qua đó, phát triển mạnh mẽ các thành phần kinh tế khác.