Chương 1 : TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN VÀ CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC 1.1 Tổng quan về Công ty cổ phần và cổ phần hóa DNNN: 1.1 Khái niệm, đặc điểm và cơ chế hoạt động của Công ty cổ phần: * Sự ra đời của Công ty cổ phần là tất yếu khách quan: Quá trình xã hội hóa tư bản đòi hỏi sự tăng cường tích tụ và tập trung tư bản ngày càng cao. Thường chỉ những nhà tư bản lớn có quy mô sản xuất ở mức độ nhất định mới có đủ khả năng để trang bị kỹ thuật hiện đại, làm cho năng suất lao động tăng lên, do đó mới có thể giành thắng lợi trong cạnh tranh. Những nhà tư bản có giá trị hàng hóa cá biệt cao hơn mức giá trị hàng hoá xã hội thì sẽ bị thua lỗ và phá sản. Hơn nữa, sự ra đời và phát triển của nền đại công nghiệp cơ khí, của tiến bộ khoa học kỹ thuật đòi hỏi tư bản cố định phải tăng lên, quy mô tối thiểu mà một nhà tư bản phải có để có thể kinh doanh dù trong điều kiện bình thường cũng ngày càng lớn hơn.
Để tránh những kết cục bi thảm có thể xảy ra trong cạnh tranh, các nhà tư bản vừa và nhỏ phải tự tích tụ vốn để mở rộng quy mô sản xuất và hiện đại hoá trang thiết bị , tạo điều kiện nâng cao năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm. Nhưng việc tích tụ vốn phải mất một thời gian dài mới có thể thực hiện được.Một lối thoát nhanh hơn và có hiệu quả hơn là các nhà tư bản vừa và nhỏ có thể thoả hiệp và liên minh với nhau, tập trung các tư bản cá biệt của họ lại thành một tư bản lớn để đủ sức cạnh tranh và dành ưu thế với các nhà tư bản khác. Một trong những hình thức tập trung tư bản này là hình thành các Công ty cổ phần. * Khái niệm Công ty cổ phần: 2 Công ty cổ phần là một thể chế kinh doanh, một loại hình doanh nghiệp hình thành, tồn tại và phát triển bởi sự góp vốn của nhiều cổ đông.
Trong Công ty cổ phần số vốn điều lệ của công ty được chia nhỏ thành các phần bằng nhau gọi là cổ phần. Các cá nhân hay tổ chức sở hữu cổ phần được gọi là cổ đông. Bộ máy các Công ty cổ phần được cơ cấu theo nguyên tắc phân quyền nhằm đảm bảo tính chuẩn mực, minh bạch và sự trường tồn của thể chế xuyên qua các biến động và thời gian. Nền tảng và nguyên tắc của các hoạt động của Công ty cổ phần chính là nền dân chủ.
Khái niệm Công ty cổ phần được xem đồng nghĩa với Công ty đại chúng bởi cấu trúc, mục tiêu và tính chất của nó. Quy định trong một số Bộ luật, trong đó có Luật Việt Nam ghi rõ Công ty cổ phần cần có tối thiểu 3 cổ đông, bất kể là pháp nhân hay thể nhân. Tuy nhiên các quy định điều chỉnh Công ty niêm yết thường yêu cầu Công ty phải có số cổ đông lớn hơn nhiều (tại Việt Nam Công ty niêm yết phải có trên 100 cổ đông, tại Hoa Kỳ NYSE yêu cầu Công ty niêm yết phải có ít nhất 2000 cổ đông). Theo điều 77 Luật Doanh nghiệp đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005 Công ty cổ phần được khái niệm như sau: 1.Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó: - Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; - Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa; - Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp; 3 - Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác trừ trường hợp cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết không được chuyển nhượng cổ phần đó cho người khác.Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày đăng ký kinh doanh.
Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán để huy động vốn. * Đặc điểm Công ty cổ phần: - Công ty cổ phần là công ty đối vốn. Vốn được tạo thành bởi nhiều phần vốn góp và được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. Cổ phần được xác định thông qua một loại chứng khoán gọi là cổ phiếu.
Lợi tức được chia định kỳ từ cổ phiếu gọi là cổ tức. Theo Điều 78 Luật Doanh nghiệp 2005 của Việt Nam, các loại cổ phần bao gồm: - Công ty cổ phần phải có cổ phần phổ thông. Người sở hữu cổ phần phổ thông là cổ đông phổ thông. - Công ty cổ phần có thể có cổ phần ưu đãi.
Cổ phần ưu đãi gồm các loại sau: cổ phần ưu đãi biểu quyết, cổ phần ưu đãi cổ tức, cổ phần ưu đãi hoàn lại, cổ phần ưu đãi khác do điều lệ công ty quy định. Trong các loại cổ phần ưu đãi trên thì cổ phần ưu đãi biểu quyết chịu một số ràng buộc như: + Chỉ có tổ chức được Chính phủ ủy quyền và cổ đông sáng lập được quyền nắm giữ cổ phần ưu đãi biểu quyết. + Ưu đãi biểu quyết của cổ đông sáng lập chỉ có hiệu lực trong 3 năm kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận kinh doanh. Sau thời hạn đó cổ phần ưu đãi biểu quyết của cổ đông sáng lập chuyển đổi thành cổ phần phổ thông.
Người được mua cổ phần ưu đãi cổ tức, cổ phần ưu đãi hoàn lại và cổ phần ưu đãi khác do Điều lệ Công ty quy định và do Đại hội đồng cổ đông quy 4 định. Các cổ phần còn lại ( ưu đãi cổ tức, ưu đãi hoàn lại, ưu đãi khác) thường tuân theo các quy tắc do Đại hội đồng cổ đông quy định. Ngoài ra, cổ phần phổ thông không thể chuyển đổi thành cổ phần ưu đãi, trong khi cổ phần ưu đãi có thể chuyển thành cổ phần phổ thông theo quy định của Đại hội đồng cổ đông. Mỗi cổ phần của cùng một loại đều tạo cho người sở hữu nó các quyền, nghĩa vụ và lợi ích ngang nhau.
- Công ty cổ phần có khả năng huy động vốn rất lớn nhờ phát hành cổ phần. Các cổ đông được mua bán tự do số cổ phần đang nắm giữ mà không cần có sự thỏa thuận của các cổ đông khác. Vấn đề đặt ra là ai là người quản lý Công ty cổ phần ? Rỏ ràng với khả năng huy động vốn rất lớn nhờ phát hành cổ phần sẽ dẫn đến trong công ty cổ phần có thể có hàng trăm cổ đông. Để thỏa mãn việc tất cả các cổ đông cùng tham gia quản lý thì cần có sự phân định giữa quyền sở hữu và quyền quản lý.
Việc phân định quyền sở hữu và quyền quản lý có thuận lợi là cho phép công ty cổ phần chia nhỏ quyền sở hữu theo những phần góp vốn bằng nhau do vậy việc chuyển nhượng thay đổi quyền sở hữu không gây phiền phức đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Việc phân định này cũng cho phép công ty cổ phần thuê những nhà quản lý chuyên nghiệp điều hành công ty theo hướng hiệu quả nhất nhưng vẫn đảm bảo mục tiêu ban đầu của chủ sở hữu. Trong thực tế, không bao giờ có sự đồng nhất tuyệt đối giữa mục tiêu của người chủ và người đại diện trong quá trình hoạt động. Điều này làm phát sinh những mâu thuẫn lợi ích giữa chủ sở hữu và nhà quản lý, cũng như những vấn đề giữa người chủ và người đại diện.Các cổ đông là người chủ, còn nhà quản lý chuyên nghiệp là người đại diện.
Nhà quản lý được yêu cầu đặt lợi ích của công ty ( người chủ )cao hơn lợi ích của chính mình. Lợi ích của công ty và lợi ích của 5 nhà quản lý có thể không gặp nhau. Nếu lợi ích của nhà quản lý được xem trọng hơn thì lợi ích thực sự của công ty sẽ bị đe dọa. Mâu thuẫn về quyền lợi giữa cổ đông và nhà quản lý có thể xảy ra là: - Trường hợp Nhà quản lý không sở hữu hoặc chỉ sở hữu một tỷ lệ nhỏ cổ phần có thể làm việc không hết mình vì lợi ích của cổ đông bởi vì không có hoặc chỉ một phần nhỏ lượng thu nhập kiếm được từ cổ phần trở thành của cải của nhà quản lý.
Các nhà quản lý sẽ quan tâm nhiều hơn đến lương và bổng lộc vì phần lớn chi phí này do cổ đông gánh chịu. - Một trường hợp khác có thể xảy ra là khi công ty có tiềm năng phát triển tốt trong tương lai, nhà quản lý muốn giành quyền kinh doanh công ty, họ có thể tìm mọi cách chủ động để mua lại hết cổ phần công ty, biến công ty cổ phần đại chúng thành công ty cổ phần nội bộ hay công ty tư nhân thuộc sở hữu của một vài cá nhân nhà quản lý. Trong thực tế khó có một giải pháp riêng biệt có thể giải quyết một cách trọn vẹn đồng thời 2 lợi ích của người chủ và nhà quản lý vì chúng thường mâu thuẫn nhau. Tuy nhiên một số biện pháp khắc phục sự mâu thuẫn này có thể được vận dụng là : - Việc đề cử chức danh Giám đốc : Giám đốc là người đại diện giữ vai trò quản lý cao nhất của công ty.
Thể hiện tuy là Giám đốc chịu trách nhiệm trước Đại hội đồng cổ đông nhưng là người có quyền đại diện công ty và điều hành mọi hoạt động hàng ngày của công ty và chi phối các chức danh quản lý khác. Do đó Đại hội đồng cổ đông nên chọn người sở hữu phần lớn cổ phần trong công ty giữ chức danh Giám đốc. Giám đốc có quyền thuê và sa thải các vị trí quản lý còn lại. 6 - Công ty phải có chế độ khuyến khích để Giám đốc và các nhà quản lý còn lại hành động vì lợi ích của cổ đông như tiền lương và tiền thưởng thoả đáng, như thưởng phần trăm trên mức vượt của lợi nhuận kiếm được so với lợi nhuận kế hoạch, thưởng bằng quyền chọn mua cổ phiếu công ty với giá ưu đãi so với mức giá bán cổ phần trên thị trường tại thời điểm mua, có kế hoạch đãi ngộ để gắn kết nhà quản lý với công ty,… Khi đó, mục tiêu lợi nhuận và hơn thế nữa là giá cổ phiếu đã trở thành động lực chính của Giám đốc và các nhà quản lý.